Nguồn: Ylymha
22/09/2026
Trị giá nhập khẩu của một số thị trường chủ lực trong tháng 8 và 8 tháng/2026
Trị giá xuất khẩu của một số thị trường chủ lực trong tháng 8 và 8 tháng/2026
1. Đánh giá chung
Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 8/2026 đạt 109,70 tỷ USD, giảm nhẹ 0,1%, tương ứng giảm 61 triệu USD so với tháng trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, tương ứng tăng 1,7 tỷ USD so với tháng trước; trị giá nhập khẩu là 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, tương ứng giảm 1,76 tỷ USD so với tháng trước.
Tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 8 tháng/2026 đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%, tương ứng tăng 171,88 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, tương ứng tăng 68,70 tỷ USD và trị giá nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng tới 35,3%, tương ứng tăng 103,18 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 8/2026 thâm hụt 113 triệu USD, đưa mức thâm hụt trong 8 tháng/2026 lên 20,46 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD.
2. Thị trường xuất nhập khẩu
Thị trường xuất khẩu:
Biểu đồ 1: Trị giá xuất khẩu của một số thị trường chủ lực trong tháng 8 và 8 tháng/2026
- Hoa Kỳ: trị giá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ trong 8 tháng/2026 đạt 122,02 tỷ USD, tăng tới 23,2%, tương ứng tăng 23 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 32,6% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
- Trung Quốc: trong 8 tháng/2026, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 54,2 tỷ USD, tăng 29,4%, tương ứng tăng 12,3 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- Hàn Quốc: xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc 8 tháng/2026 là 22,2 tỷ USD, tăng 16,7%, tương ứng tăng 3,17 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- EU(27 nước): trong 8 tháng/2026, xuất khẩu sang EU (27 nước) đạt 44,26 tỷ USD, tăng 19,8%, tương ứng tăng 7,32 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- ASEAN: xuất khẩu sang thị trường ASEAN trong 8 tháng/2026 là 30,62 tỷ USD, tăng 20,4%, tương ứng tăng 5,19 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, trong 8 tháng/2026 một số thị trường xuất khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước như Hồng Kông đạt 15,43 tỷ, tăng 38,2%; Mêxicô đạt 6,27 tỷ USD, tăng 39,2%; Canada đạt 5,9 tỷ USD, tăng 20,4%...
Thị trường nhập khẩu:
Biểu đồ 2: Trị giá nhập khẩu của một số thị trường chủ lực trong tháng 8 và 8 tháng/2026
- Trung Quốc: trong 8 tháng/2026, tổng trị giá nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt 161,94 tỷ USD, tăng 37,3%, tương ứng tăng 44 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm tới 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
- Hàn Quốc: trị giá nhập khẩu từ Hàn Quốc trong 8 tháng/2026 đạt 60,12 tỷ USD, tăng 54,1%, tương ứng tăng 21,1 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- Đài Loan: trị giá nhập khẩu từ Đài Loan trong 8 tháng/2026 đạt 33,51 tỷ USD, tăng 58,8%, tương ứng tăng tới 12,4 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- Nhật Bản: trị giá nhập khẩu từ Nhật Bản trong 8 tháng/2026 đạt 18,14 tỷ USD, tăng 13,3%, tương ứng tăng 2,13 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- Hoa Kỳ: trị giá nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong 8 tháng/2026 đạt 15,39 tỷ USD, tăng 26,8%, tương ứng tăng 3,25 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
- ASEAN: trị giá nhập khẩu từ ASEAN trong 8 tháng/2026 đạt 44,17 tỷ USD, tăng 26,4%, tương ứng tăng 9,22 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài ra, một số thị trường nhập khẩu có biến động nhiều trong 8 tháng/2026 là thị trường Cô Oét, với mức trị giá đạt 1,54 tỷ USD, giảm tới 2,87 tỷ USD (tương ứng giảm 65,1%); Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất đạt 1,51 tỷ USD, gấp 4 lần (tương ứng tăng 1,13 tỷ USD); Ôman đạt 1,48 tỷ USD, gấp 10 lần (tương ứng tăng 1,33 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
3. Xuất khẩu hàng hóa
Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 8/2026 đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% (tương ứng tăng 1,7 tỷ USD) so với tháng trước.
Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 1,87 tỷ USD; nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện tăng 283 triệu USD và nhóm hàng rau quả tăng 297 triệu USD so với tháng trước.
Bên cạnh đó, một số nhóm hàng lại giảm như giày dép các loại giảm 217 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm giảm 170 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 25,9 triệu USD so với tháng trước.
Trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng/2026 đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, tương ứng tăng tới 68,7 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, nổi bật là 3 nhóm hàng tăng mạnh, dẫn đầu là nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng tới 34,16 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 9,88 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 7,41 tỷ USD. Tính chung, trị giá xuất khẩu của 3 nhóm hàng này tăng 51,45 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước (tương đương 75% mức tăng trị giá xuất khẩu của cả nước). Bên cạnh đó, có thêm 4 nhóm hàng đều tăng trên 1 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước gồm hàng rau quả (tăng 1,33 tỷ USD); phương tiện vận tải và phụ tùng (tăng 1,9 tỷ USD); đồ chơi dụng cụ thể thao và bộ phận (tăng 1,24 tỷ USD) và hóa chất (tăng 1,04 tỷ USD).
Biểu đồ 3: 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam 8 tháng/2025 và 8 tháng/2026
Một số nhóm hàng xuất khẩu chính
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 8/2026 đạt 15,85 tỷ USD, qua đó nâng mức trị giá xuất khẩu trong trong 8 tháng/2026 lên 101,06 tỷ USD, chiếm tới 27% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 51,1% (tương ứng tăng tới 34,16 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong 8 tháng/2026 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ với 38,73 tỷ USD, tăng 48,4% (tương ứng tăng 12,64 tỷ USD); Trung Quốc với 17,24 tỷ USD, tăng 56,4% (tương ứng tăng 6,22 tỷ USD); Hồng Kông với 9,72 tỷ USD, tăng 41,2% (tương ứng tăng 2,84 tỷ USD); Hàn Quốc với 6,23 tỷ USD, tăng 13,5% (tương ứng tăng 0,74 tỷ USD); Mêxicô với 2,09 tỷ USD, tăng 140% (tương ứng tăng 1,22 tỷ USD); Đài Loan với 2,04 tỷ USD, tăng 96,8% (tương ứng tăng 1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
- Điện thoại các loại và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 8/2026 là 7,08 tỷ USD, tăng 4,2% so với tháng trước. Trị giá xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong 8 tháng/2026 đạt 45,59 tỷ USD, chiếm 12,2% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 19,4% (tương ứng tăng 7,41 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong 8 tháng/2026 chủ yếu sang các thị trường như Trung Quốc với 9,59 tỷ USD, tăng 16,8% (tương ứng tăng 1,38 tỷ USD); Hoa Kỳ với 8,62 tỷ USD, tăng 14,5% (tương ứng tăng 1,09 tỷ USD); EU(27 nước) với 5,59 tỷ USD, tăng 12,3% (tương ứng tăng 613 triệu USD); Hàn Quốc với 4,71 tỷ USD, tăng 74,4% (tương ứng tăng 2,01 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong tháng 8/2026 là 6,97 tỷ USD, tăng 1% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong 8 tháng/2026 đạt 47,29 tỷ USD, chiếm 12,6% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước, tăng 26,4% (tương ứng tăng 9,88 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong 8 tháng/2026 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ với 19,6 tỷ USD, tăng 29,1%; EU(27 nước) với 5,55 tỷ USD, tăng 15,2%; Trung Quốc với 4,52 tỷ USD, tăng 31,3%; Hồng Kông với 3,53 tỷ USD, tăng 58,5% so với cùng kỳ năm trước.
- Hàng dệt may: tháng 8/2026, xuất khẩu hàng dệt may đạt 4 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng dệt may trong 8 tháng/2026, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này là 26,9 tỷ USD, tăng 1,6% (tương ứng tăng 412 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang Hoa Kỳ đạt 12,42 tỷ USD, tăng 2,9%; EU (27 nước) đạt 3,38 tỷ USD, tăng 7%; Nhật Bản đạt 2,79 tỷ USD, giảm 5,7%; Hàn Quốc đạt 1,86 tỷ USD, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước.
- Giày dép các loại: tháng 8/2026, xuất khẩu giày dép các loại đạt 2,01 tỷ USD, giảm 9,7% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu giày dép các loại trong 8 tháng/2026, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này là 16,2 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7% (tương ứng tăng 118 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Giày dép các loại chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là 6,46 tỷ USD, tăng 6,5% và thị trường EU (27 nước) là 4,06 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, trị giá giày dép các loại xuất khẩu sang 2 thị trường này đạt 10,52 tỷ USD, chiếm 65% trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
- Gỗ và sản phẩm gỗ: trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 8/2026 đạt 1,58 tỷ USD, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8 tháng/2026 đạt 11,81 tỷ USD, tăng 6% (tương ứng tăng 0,67 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng/2026, nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 5,91 tỷ USD, giảm 4,6%; Trung Quốc đạt 1,77 tỷ USD, tăng 43,4%; Nhật Bản đạt 1,48 tỷ USD, tăng 5,3%; EU (27 nước) đạt 619 triệu USD, tăng 55,9% so với cùng kỳ năm trước.
- Gạo: trong tháng 8/2026, xuất khẩu gạo đạt 539 nghìn tấn, tăng 14,2% so với tháng trước. Tính chung, lượng gạo xuất khẩu trong 8 tháng/2026 là 6,03 triệu tấn, giảm 5,1% và trị giá xuất khẩu gạo là 2,9 tỷ USD, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, gạo xuất sang thị trường ASEAN với 3,13 triệu tấn, chiếm 52% tổng lượng gạo của cả nước và giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước; Bờ Biển Ngà là 400 nghìn tấn, giảm 46,9%. Bên cạnh đó, xuất khẩu gạo sang một số thị trường lại tăng so với cùng kỳ năm trước như Trung Quốc đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 81,7%; EU (27 nước) đạt 130 nghìn tấn, tăng 117,8%; Ghana là 686 nghìn tấn, tăng 3,6%.
- Hàng thủy sản: xuất khẩu hàng thủy sản trong tháng 8/2026 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng thủy sản trong 8 tháng/2026 đạt xấp xỉ 8 tỷ USD, tăng 11,8% (tương ứng tăng 844 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 1,9 tỷ USD, tăng 33,9% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 1,25 tỷ USD, tăng 1,5%; Nhật Bản đạt 1,12 tỷ USD, tăng 2,8%; EU (27 nước) đạt 747 triệu USD, giảm 1,7%.
- Phân bón các loại: trong tháng 8/2026, xuất khẩu phân bón các loại đạt 160 nghìn tấn, giảm 14,9% so với tháng trước. Tính chung, trong 8 tháng/2026, lượng xuất khẩu phân bón các loại đạt 2,05 triệu tấn, tăng mạnh tới 36,6% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá xuất khẩu phân bón các loại trong 8 tháng/2026 đạt 1,11 tỷ USD, tăng tới 78,2% (tương ứng tăng 488 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Phân bón các loại chủ yếu được xuất sang thị trường ASEAN với 1,09 triệu tấn, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 53,2% tổng lượng phân bón xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo xuất sang Ấn Độ với 271 nghìn tấn, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước; Ôxtrâylia với 203 nghìn tấn, tăng 26,5%…
- Xăng dầu các loại: trong tháng 7/2026, xuất khẩu xăng dầu các loại đạt 149 nghìn tấn, tăng 12,8% so với tháng trước. Tính chung, lượng xăng dầu các loại xuất khẩu trong 8 tháng/2026 là 982 nghìn tấn, tăng 7,5% và trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 961 triệu USD, tăng tới 54,2% (tương ứng tăng 337 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng/2026, xăng dầu các loại chủ yếu xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 498 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 219 nghìn tấn, tăng 4,5% và Trung Quốc đạt 191 nghìn tấn, giảm 2,3%.
4. Nhập khẩu hàng hóa
Tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa trong tháng 8/2026 đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, tương ứng giảm 1,76 tỷ USD so với tháng trước.
Trong đó, có tới 45/56 nhóm hàng giảm so với tháng trước, tập trung ở các nhóm hàng như ô tô nguyên chiếc giảm 147 triệu USD (tương ứng giảm 24,6%); nhóm hàng sắt thép kim loại thường, sản phẩm và phế liệu giảm 267 triệu USD (tương ứng giảm 7%); hạt điều giảm 101 triệu USD (tương ứng giảm 25,4%); ngô giảm 89 triệu USD (tương ứng giảm 23,5%)…
Biểu đồ 5 :10 nhóm hàng nhập khẩu chủ lực của Việt Nam trong 7 tháng/2025 và 7 tháng/2026
Lũy kế trong 8 tháng/2026, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 395,3 tỷ USD, tăng tới 35,3%, tương ứng tăng 103,18 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
8 tháng/2026, nhập khẩu hàng hóa tăng mạnh nhất ở các nhóm sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (tăng 65,59 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng (tăng 8,57 tỷ USD) so với 8 tháng/2025
Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này trong tháng 8/2026 là 25,62 tỷ USD, chỉ tăng 1,1%, tương ứng tăng 279 triệu USD so với tháng trước. Đây là mức tăng thấp nhất của nhóm hàng này tính từ đầu năm đến nay.
Tính chung trong 8 tháng/2026 nhập khẩu nhóm hàng này đạt tới 161,63 tỷ USD, tăng 68,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 65,59 tỷ USD và chiếm tỷ trọng gần 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Trung Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong 8 tháng/2026 với trị giá đạt 59,26 tỷ USD, tăng 76,8% (tương ứng tăng 25,73 tỷ USD); tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với 43,36 tỷ USD, tăng gần 80% (tương ứng tăng 19,27 tỷ USD); Đài Loan với 26,85 tỷ USD, tăng 79,3% (tương ứng tăng 11,9 tỷ USD); Nhật Bản với 6,7 tỷ USD, tăng 24,4% (tương ứng tăng 1,31 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này trong tháng 8/2026 đạt 6,33 tỷ USD, giảm 5,4% so với tháng trước, tương ứng giảm 362 triệu USD.
Tính đến hết 8 tháng/2026, cả nước đã nhập khẩu 47,4 tỷ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; tăng 22,1%, tương ứng tăng 8,57 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ thị trường Trung Quốc với trị giá đạt 30,56 tỷ USD, tăng 23,3%, tương ứng tăng 5,78 tỷ USD và chiếm 64,5% trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Như vậy, tính chung trị giá nhập khẩu của 4 nhóm hàng này trong 8 tháng/2026 đạt 217,65 tỷ USD, tăng 51,7%, tương ứng tăng 74,2 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 49,02 tỷ USD so với trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả năm 2024.
- Sắt thép các loại và sản phẩm: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng sắt thép các loại và sản phẩm trong tháng 8 đạt 1,88 tỷ USD, giảm 3,9%, tương ứng giảm 75,7 triệu USD so với tháng trước.
Tính chung trong 8 tháng/2026, cả nước đã nhập khẩu 14,2 tỷ USD sắt thép các loại và sản phẩm, tăng 14,8%, tương ứng tăng 1,83 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sắt thép các loại đạt 10,37 triệu tấn với trị giá là 7,7 tỷ USD, tăng 3,2% về lượng và tăng 7,5% về trị giá; nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép đạt 6,49 tỷ USD, tăng mạnh 24,8%, tương ứng tăng 1,29 tỷ USD.
Nhập khẩu sắt thép các loại và sản phẩm trong 8 tháng/2026 chủ yếu từ Trung Quốc với trị giá đạt 8,48 tỷ USD, tăng 13,8% (tương ứng tăng 1,03 tỷ USD) so với 8 tháng/2025 và chiếm gần 60% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
- Kim loại thường và sản phẩm: trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 8 đạt 1,68 tỷ USD, giảm 10%, tương ứng giảm 186 triệu USD so với tháng trước.
Tính đến hết 8 tháng/2026, trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này đạt 13,51 tỷ USD, tăng 30,7% (tương ứng tăng 3,17 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng kim loại thường khác và sản phẩm từ các thị trường: Trung Quốc đạt 6,35 tỷ USD, tăng 28,4% (tương ứng tăng 1,4 tỷ USD); Hàn Quốc đạt 1,37 tỷ USD, tăng 19,9% (tương ứng tăng 228 triệu USD) so với 8 tháng/2025.
- Nhóm nhiên liệu (bao gồm than các loại, dầu thô, xăng dầu các loại và khí đốt hóa lỏng: trong tháng 8/2026, Việt Nam đã nhập khẩu 7,68 triệu tấn nhiên liệu, với trị giá là 3,13 tỷ USD, giảm 20,6% về lượng nhưng chỉ giảm 0,3% về trị giá so với tháng trước. Đơn giá nhập khẩu dầu thô giảm 5,3% so với tháng trước, trong khi đơn giá nhập khẩu của than các loại, xăng dầu các loại và khí đốt các loại lần lượt tăng 6,5%, 6,4% và 5,4% so với tháng trước.
Tính đến hết tháng 8/2026, cả nước đã nhập khẩu 70,93 triệu tấn nhiên liệu với trị giá đạt 22,76 tỷ USD, tăng 7,8% về lượng và tăng đến 42,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, lượng nhập khẩu của than các loại là 52,49 triệu tấn, tăng 10,6%, lượng nhập khẩu khí đốt hóa lỏng là 2,43 triệu tấn, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với xăng dầu các loại, lượng nhập khẩu trong 8 tháng/2026 là 7,69 triệu tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước với trị giá đạt 8,36 tỷ USD, tăng 78,3%. Trong đó, lượng nhập khẩu dầu diesel đạt 4,41 triệu tấn, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 57% lượng xăng dầu các loại nhập khẩu của cả nước; lượng nhập khẩu nhiên liệu bay đạt 1,51 triệu tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước; lượng nhập khẩu xăng đạt 1,43 triệu tấn, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu xăng dầu các loại từ các thị trường: Xinh ga po với lượng đạt 2,1 triệu tấn, giảm 14,5%; Hàn Quốc đạt 1,94 triệu tấn, giảm 1,2%; Malaixia đạt 1,52 triệu tấn, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Lượng nhập khẩu dầu thô trong 8 tháng/2026 đạt 8,31 triệu tấn với trị giá là 6,18 tỷ USD, giảm 10,8% về lượng nhưng tăng 18,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu dầu thô từ Cô Oét với lượng nhập khẩu đạt 2,78 triệu tấn, giảm 63,8% so với 8 tháng/2025 và chiếm đến 35% trị giá nhập khẩu dầu thô của cả nước. Ngoài ra, trong 8 tháng/2026 Việt Nam nhập khẩu dầu thô từ một số thị trường mới như: Ô Man đạt 1,6 triệu tấn; Các Tiểu Vương quốc Ả Rập đạt 1,45 tỷ USD; I rắc đạt 528 nghìn tấn. Các đối tác này Việt Nam đều không nhập khẩu dầu thô trong năm 2025.
- Nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày (bao gồm vải, bông, xơ sợi dệt các loại và nguyên phụ liệu dệt may, da giày: nhập khẩu nhóm hàng nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, da giày trong tháng 8/2026 đạt 2,39 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước tương ứng giảm 94 triệu USD (theo tính chu kỳ nhập khẩu của nhóm hàng này trong các tháng giữa năm thường giảm so với các tháng đầu năm).
Tính chung trong 8 tháng/2026, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này đạt 19,37 tỷ USD, tăng 3,9%, tương ứng tăng 733 triệu USD so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng nguyên phụ liệu phục vụ ngành dệt may, da giày cho Việt Nam trong 8 tháng/2026, chiếm tỷ trọng 60%, với 11,74 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là các thị trường: Hoa Kỳ với 1,56 tỷ USD, tăng 12%; Đài Loan với 1,27 tỷ USD, giảm 9,02%.
- Ô tô nguyên chiếc: lượng ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam trong tháng là 19.346 chiếc, giảm 8.340 chiếc so với tháng trước. Tính đến hết 8 tháng/2026, lượng xe ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu là 168.033 chiếc, tăng mạnh 29,5% tương ứng tăng 30.330 chiếc so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng/2026, ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu là ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống với 115.798 chiếc, tăng 10,8%, tương ứng tăng 11.317 chiếc; tiếp theo là ô tô tải đạt 30.938 chiếc, tăng 74,7%, tương ứng tăng 13.232 chiếc; ô tô loại khác là 21.247 chiếc, tăng 37,6%, tương ứng tăng 5.801 chiếc so với cùng kỳ năm 2025. Riêng ô tô trên 9 chỗ ngồi, trong 8 tháng/2026, Việt Nam chỉ nhập về 50 chiếc.
Ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam trong 8 tháng/2026 chủ yếu có xuất xứ từ In đô nê xia, Thái Lan và Trung Quốc, chiếm 95% tổng lượng nhập khẩu của cả nước. Trong đó, nhập khẩu từ Inđônêxia là 70.366 chiếc, tăng 35,4%, tương ứng tăng 18.411 chiếc so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Thái Lan là 44.411 chiếc, giảm 6,2%, tương ứng giảm 2.923 chiếc và nhập khẩu từ Trung Quốc là 44.335 chiếc, tăng 45,9%, tương ứng tăng 13.946 chiếc.
Nguồn: Ylymha
Không có nhận xét nào