Header Ads

  • Breaking News

    Việt Nam đứng thứ hai ASEAN: Thành tích lớn hay lời cảnh báo lớn?

    Trung Điền 

    September 22, 2026

    Nhân viên sản xuất smartphone trong nhà máy của Samsung tại Thái Nguyên. Ảnh: SEVT, via VnExpress

    Việt Nam đang tiến rất nhanh. Theo dự báo của IMF, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam năm 2026 có thể vượt 2.000 tỷ USD, đứng thứ hai Đông Nam Á, sau Indonesia và trên Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore. Ngân hàng Phát triển Á Châu cũng dự báo Việt Nam tiếp tục là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực trong năm 2026–2027. Đó là một thành tích đáng ghi nhận. Nhưng nếu chỉ dừng ở thứ hạng, người ta có thể bỏ lỡ câu hỏi quan trọng hơn: Việt Nam đang lớn lên bằng cái gì, và mô hình ấy còn đi được bao xa? Đây mới là điều đáng bàn.

    Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng châu Á. OECD nhận định Việt Nam là một trong những nước hưởng lợi lớn nhất từ sự dịch chuyển đầu tư sau căng thẳng thương mại Mỹ–Trung, khi các tập đoàn quốc tế tìm cách đa dạng hóa sản xuất khỏi Trung Quốc.

    FDI vào Việt Nam trong giai đoạn 2015–2023 tương đương khoảng 4,8% GDP mỗi năm, cao hơn nhiều nước ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ. Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài hiện đóng vai trò áp đảo trong xuất khẩu chế tạo của Việt Nam. Nhưng chính thành công đó cũng phơi bày điểm yếu của mô hình tăng trưởng Việt Nam. Nói một cách đơn giản là Việt Nam đã thành công trong việc đưa nhà máy của thế giới vào Việt Nam; nhưng chưa thành công tương xứng trong việc đưa doanh nghiệp Việt Nam vào bên trong những nhà máy ấy.

    Sự trỗi dậy của Việt Nam không phải là điều ngẫu nhiên mà nó được xây dựng dựa trên ba lợi thế rất thực tế.

    Thứ nhất là địa lý. Việt Nam nằm sát Trung Quốc, trung tâm sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới. Điều này cho phép các tập đoàn áp dụng chiến lược thường được gọi là “China+1”: Không cần rời bỏ hoàn toàn hệ sinh thái sản xuất Trung Quốc, mà chỉ chuyển một phần công đoạn sang Việt Nam. Một nhà máy có thể đặt tại Bắc Ninh, Hải Phòng hay Bắc Giang trong khi linh kiện, máy móc, vật liệu và nhà cung cấp vẫn nằm ở Quảng Đông, Quảng Tây hoặc sâu hơn trong Trung Quốc. Khoảng cách địa lý ngắn giúp doanh nghiệp giảm chi phí tái cấu trúc chuỗi cung ứng. OECD lưu ý rằng sự gần gũi và mức độ hội nhập ngày càng cao giữa hai nền kinh tế là một lợi thế đáng kể của Việt Nam. Nói cách khác, Việt Nam không cần xây dựng từ đầu toàn bộ một hệ sinh thái công nghiệp mới để đón làn sóng dịch chuyển. Việt Nam có thể đứng ngay cạnh hệ sinh thái lớn nhất thế giới và tiếp nhận phần sản xuất được chuyển ra ngoài Trung Quốc.

    Nhưng cũng chính ở đó xuất hiện một sự lệ thuộc. Nếu linh kiện, máy móc và nguyên liệu vẫn chủ yếu nhập vào rồi được lắp ráp tại Việt Nam trước khi xuất đi, Việt Nam có thể sở hữu những con số xuất khẩu rất lớn mà phần giá trị thực sự được tạo ra trong nước vẫn hạn chế. OECD ước tính giá trị nước ngoài chiếm khoảng 48% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2020, tăng mạnh so với năm 2005. Nói một cách khác, khoảng một nửa giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam được tạo ra ở nơi khác.

    Thứ hai là lao động tương đối rẻ. Trong nhiều năm, đây là một trong những lý do quan trọng khiến Việt Nam hấp dẫn ngành may mặc, da giày, điện tử và lắp ráp. OECD xác nhận lương công nhân sản xuất tại Việt Nam vẫn tương đối thấp so với nhiều nền kinh tế ASEAN. Một công ty quốc tế nhìn vào Việt Nam có thể thấy ba thứ cùng lúc: Lao động có trình độ giáo dục cơ bản khá, chi phí chưa cao, và khả năng tiếp cận nhanh chuỗi cung ứng Trung Quốc. Đó là một công thức rất hấp dẫn.

    Nhưng lao động rẻ là một lợi thế có ngày hết hạn. Tiền lương thực tế ở Việt Nam đã tăng trung bình khoảng 5% mỗi năm kể từ 2006, theo OECD. Khi tiền lương tăng mà năng suất không tăng tương ứng, lợi thế chi phí sẽ giảm. Và những ngành chỉ tìm nơi lắp ráp rẻ hoàn toàn có thể đi tiếp tới Campuchia, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh hoặc một điểm đến khác.  Không có lòng trung thành trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Có chi phí, năng suất và rủi ro. Nhà máy đến được thì cũng có thể đi được.

    Thứ ba là chính sách thu hút FDI rất mạnh. Việt Nam đã sử dụng khu công nghiệp, đất đai, ưu đãi thuế và các cơ chế hỗ trợ đầu tư để cạnh tranh quyết liệt giành dự án. Những lĩnh vực được khuyến khích có thể hưởng thuế suất doanh nghiệp thấp hơn, miễn giảm thuế nhiều năm và ưu đãi tiền thuê đất. Với các ngành số và công nghệ cao, OECD mô tả chế độ ưu đãi mới của Việt Nam thuộc nhóm khá hào phóng trong khu vực. Chiến lược này có lý trong giai đoạn đầu: Một nước đang phát triển cần vốn, công nghệ, việc làm, thị trường xuất khẩu và kỹ năng quản trị từ bên ngoài. Vấn đề không phải là Việt Nam đã thu hút quá nhiều FDI. Vấn đề là sau ba thập niên thu hút FDI, nền kinh tế nội địa đã hấp thụ được bao nhiêu từ FDI?

    Việt Nam ngày càng giống một nền kinh tế có hai tầng. Ở tầng trên là những đại công ty Samsung, Foxconn, LG, Intel và hàng nghìn doanh nghiệp FDI cùng các nhà cung cấp quốc tế đi theo họ. Ở tầng dưới là một khu vực doanh nghiệp Việt Nam rất lớn về số lượng nhưng phần lớn nhỏ, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu R&D và khó đáp ứng tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu. OECD cho biết doanh nghiệp nước ngoài chiếm gần ba phần tư xuất khẩu Việt Nam năm 2023; trong một số nhóm sản phẩm như điện thoại, máy tính và máy móc, tỷ lệ có thể tới khoảng 90%. Đây vừa là sức mạnh vừa là điểm yếu.

    Nếu một quốc gia xuất khẩu nhiều điện thoại nhưng doanh nghiệp trong nước chủ yếu cung cấp bao bì, suất ăn, vệ sinh và dịch vụ bảo vệ, thì việc gọi đó là “ngành công nghiệp điện thoại của Việt Nam” cần được hiểu rất thận trọng. Trường hợp Samsung cho thấy rất điển hình. OECD ghi nhận rằng Việt Nam đã tăng đáng kể số nhà cung cấp cấp một cho Samsung, nhưng trong một thời gian dài phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn không sản xuất những linh kiện cốt lõi cho sản phẩm cuối cùng; nhiều doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hoặc vật liệu tương đối đơn giản. Đây không phải một thất bại của Samsung. Một tập đoàn quốc tế có trách nhiệm với cổ đông của mình, không phải trách nhiệm xây dựng nền công nghiệp quốc gia cho nước chủ nhà. Đây là bài toán của Việt Nam.

    Vì thế việc sắp thứ hạng PPP của Việt Nam hiện đang che khuất một sự thật. Đó là lý do Việt Nam có thể vượt Malaysia hay Thái Lan về tổng GDP PPP trong khi mức sống bình quân vẫn thấp hơn đáng kể. Theo dữ liệu IMF được tổng hợp cho năm 2026, GDP PPP bình quân đầu người của Việt Nam vào khoảng 19.600 USD quốc tế, trong khi Thái Lan khoảng 27.400 USD và Malaysia gần 47.000 USD.

    Đây là khác biệt rất lớn.

    Malaysia ít dân hơn nhiều nhưng một người Malaysia trung bình tạo ra và tiêu dùng một lượng giá trị lớn hơn nhiều so với một người Việt Nam. Vì vậy, câu hỏi phát triển đúng không phải “Việt Nam đã vượt nước nào?” mà là: “Một người Việt Nam tạo ra được bao nhiêu giá trị, và con số đó đang tiến gần các nước phát triển nhanh đến mức nào?”

    Việt Nam đã cải thiện năng suất lao động khá nhanh trong nhiều thập niên, nhưng vấn đề nằm ở chỗ tốc độ tăng nhanh không đồng nghĩa với mức năng suất đã cao. OECD cho biết năng suất lao động của Việt Nam tăng bình quân khoảng 5,9%/năm trong giai đoạn 2000–2010, nhưng giảm xuống còn khoảng 4,6%/năm trong giai đoạn 2010–2022. Dù vẫn tăng nhanh hơn nhiều nước ASEAN, nhưng mức năng suất tuyệt đối của Việt Nam vẫn thấp đáng kể so với Malaysia và Thái Lan. Năm 2022, năng suất lao động tính theo GDP trên mỗi lao động, điều chỉnh theo PPP, của Malaysia khoảng 71.100 USD, Thái Lan khoảng 34.600 USD, trong khi Việt Nam chỉ ở nhóm khoảng trên 20.000 USD mỗi lao động; Indonesia cũng ở mức cao hơn Việt Nam nhưng thấp hơn Thái Lan.

    Đây là con số đáng chú ý hơn vị trí thứ hai ASEAN về PPP. Vì mô hình lao động rẻ có thể đưa một nước từ nghèo lên trung bình. Nó hiếm khi đưa một nước từ trung bình lên giàu. Vì muốn vượt qua giai đoạn tiếp theo phải có nhiều thứ khác như doanh nghiệp nội địa lớn hơn; kỹ sư giỏi hơn; R&D mạnh hơn; công nghiệp phụ trợ sâu hơn; dịch vụ có giá trị cao hơn; quản trị doanh nghiệp tốt hơn; và khả năng tạo ra công nghệ, thương hiệu và sở hữu trí tuệ của chính mình.

    Ở đây Việt Nam còn rất yếu về các lãnh vực nói trên. OECD năm 2026 kết luận khá thẳng rằng mô hình FDI hiện nay, tập trung nhiều vào lắp ráp và sản xuất giá trị gia tăng thấp, đang tiến tới giới hạn trong vai trò thúc đẩy năng suất.  Đó có lẽ là câu quan trọng nhất trong toàn bộ câu chuyện.

    Nói cách khác, ba lợi thế từng giúp Việt Nam tăng tốc như gần Trung Quốc, lao động tương đối rẻ và chính sách hấp dẫn FDI, đều đã có giới hạn. Thách thức thực sự của Việt Nam nằm ở câu hỏi then chốt: Sau ba thập niên đón vốn, công nghệ và nhà máy từ thế giới, Việt Nam đã xây dựng được bao nhiêu doanh nghiệp đủ sức đứng ngang hàng với những tập đoàn đã đến Việt Nam?

    Trung Điền

    * Trung Điền là nhà nghiên cứu về địa chính trị khu vực Á Châu trong hơn 30 năm qua. Chuyên viết các bài phân tích về tình hình Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á.


    Không có nhận xét nào