Nhân Tuấn Trương
20/9/2026
“…Thử đặt vấn đề:
Nếu sau khi các tuyến cao tốc, cảng biển và metro hoàn thành mà doanh nghiệp công nghệ nội địa vẫn không lớn lên, R&D vẫn chỉ ở mức 0,4% GDP, và trường đại học vẫn không đào tạo được kỹ sư làm chủ công nghệ đường sắt hay bán dẫn, thì hạ tầng đồ sộ này rốt cuộc cũng chỉ phục vụ tốt hơn cho việc vận chuyển linh kiện lắp ráp của các tập đoàn FDI nước ngoài.
Nhưng tài phiệt FDI đâu có "ăn đời ở kiếp" với VN ?
Muốn mục tiêu 10% bền vững, hạ tầng chỉ đóng vai trò "mở đường". Động lực cốt lõi quyết định Việt Nam có hóa rồng hay không vẫn là "chất lượng thể chế", "phân bổ dòng vốn" và mức độ "đầu tư vào vốn con người".
Trước tiên là phải biết GDP được tính bởi công thức và những "biến số" nào.
GDP = C + I + G + (X - M).
C : tiêu dùng nội địa. I: tổng vốn đầu tư xã hội. G: đầu tư công và (X-M) là xuất khẩu.
Tình hình hiện thời xuất khẩu (X - M) đang chạm trần. Xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nặng vào FDI và chuỗi cung ứng bên ngoài (phụ thuộc Mỹ ở đầu ra và TQ ở đầu vô). Đối diện với xu hướng bảo hộ toàn cầu và rủi ro áp thuế từ các đối tác lớn (Mỹ, EU) do đó VN không thể kỳ vọng xuất khẩu tăng đột biến, kiểu nhảy cóc 15-20%/năm để kéo GDP tăng 10%.
Tiêu dùng nội địa (C) hiện trong tình trạng "èo uột". Tiểu thương, chợ búa... đóng cửa hàng loạt ở các đô thị lớn. Bất động sản đóng băng (do giá cả trên trời không kém Hong Kong, Tokyo, Singapore...) trong khi thu nhập người dân vẫn còn rất thấp.
Tức là, nếu muốn tăng trưởng GDP "hai số", nhà nước phải "gài hết số và đạp lút ga" lên hai thứ "đầu tư công" (G) và "đầu tư toàn xã hội" (I).
Để tăng trưởng 10%, ước tính Việt Nam cần huy động một lượng vốn khổng lồ: đầu tư công "G" khoảng 450 – 500 tỉ đô la trong 5 năm và tổng vốn đầu tư xã hội "I" khoảng hơn 1.000 tỉ đô la.
Đối chiếu "từ ước vọng ra thực tế" ta thấy niềm hy vọng tăng trưởng "GDP hai số" được đặt lên vai các đại dự án đầu tư hạ tầng cơ sở : đường sắt tốc độ cao, metro, đào kênh, cao tốc...
Việc giải ngân hàng loạt "siêu dự án chục tỉ đô", để có tiền mua sắt thép, xi măng, giải phóng mặt bằng, trả nhân công và mua máy móc..., hệ quả "thấy liền" GDP tăng tốc lên thẳng như hoả tiễn ngay trong năm đầu tiên thi công (hiệu ứng số nhân - fiscal multiplier" của Keynes).
Ta thấy các dự án hạ tầng đang được đẩy nhanh tiến độ chưa từng thấy trong lịch sử :
Đường sắt đô thị (Metro) tại Hà Nội và TP.HCM: mục tiêu xây dựng đồng loạt hàng chục tuyến metro với tổng mức đầu tư mỗi thành phố lên tới vài chục tỉ đô theo cơ chế đặc thù (và áp dụng mô hình TOD (phát triển đô thị quanh nhà ga).
Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 67 - 70 tỉ đô, dự kiến bằng vốn ngân sách và trái phiếu chính phủ trong 10 - 12 năm tới.
Mạng lưới cao tốc & cảng biển, sân bay: Mục tiêu 5.000 km đường bộ cao tốc xuyên suốt cả nước, đưa cảng hàng không quốc tế Long Thành vào vận hành thương mại và mở rộng các cảng cửa ngõ quốc tế (Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải, Cần Giờ).
Đào kênh và nạo vét trục thủy nội địa: Điển hình là các đề án khơi thông giao thông thủy liên vùng như dự án nạo vét, cải tạo và thông luồng các dòng kênh, trục sông nội đô tại TP.HCM (như kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tàu Hủ - Bến Nghé, Tân Hóa - Lò Gốm, Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên, Rạch Xuyên Tâm) và Hà Nội (hệ thống sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ và các trục kết nối sông Nhuệ, sông Đáy)...
Vấn đề là chuyện dùng đầu tư công qui mô "khủng" để kích tăng trưởng GDP 10% là con dao hai lưỡi:
Thứ nhứt là rủi ro nợ công và thâm hụt tài khóa: Tiền thu vào từ đương cao tốc, từ metro, từ cảng biển, sân bay, kênh rạch... có đủ để trả nợ hay không ?
Huy động 500 tỉ đô la trong 5 năm cho các dự án dài hạn (mà thời hạn hoàn vốn là mịt mù) thì lấy cái gì để trả nợ ? Việc này sẽ tạo áp lực khủng khiếp lên trần nợ công, bội chi ngân sách và hệ thống ngân hàng thương mại.
Nếu không thu hút được dòng vốn tư nhân hoặc vốn quốc tế giá rẻ, nhà nước buộc phải phát hành trái phiếu chính phủ khối lượng cực lớn mà việc này dễ dẫn đến hiện tượng lệ thuộc vào đầu tư tư nhân (Crowding-out effect).
Cái khó của VN nào giờ là hệ số ICOR (suất vốn đầu tư tăng thêm) quá cao. Để tạo ra 1 đồng tăng trưởng GDP, VN phải đầu tư tới 6 đồng. Ép tăng trưởng 10%, tính đại khái 50 tỉ đô la/năm (10% của 500 tỉ đô la), đồng nghĩa với việc phải bơm tiền 300 tỉ đô la/năm.
"Vàng trong dân còn nhiều lắm". Kiều hối mỗi năm 16-19 tỉ đô la (30%-40% từ nguồn lao động xuất khẩu). Sầu riêng 3 đến 4 tỉ đô/năm... Nhưng "vắt" ở mức này thì dân chỉ có thể là "chanh" mà thôi.
Trung Quốc từng tăng trưởng hai con số nhờ bùng nổ hạ tầng và bất động sản. Hệ quả để lại là núi nợ của chính quyền địa phương và hàng loạt tuyến đường sắt, đô thị hoang vắng không có người ở, lợi suất khai thác không bù nổi chi phí bảo trì.
VN còn có trở ngại nếu các tuyến metro hay đường sắt của Việt Nam không giải phóng mặt bằng kịp lúc, hoặc là đội vốn gấp đôi gấp ba (kiểu Cát linh-Hà đông) và vắng khách sau khi vận hành, thì đó sẽ là gì nếu không phải là gánh nặng tài chánh cho thế hệ tương lai ?
Ngoài ra còn có nguy cơ tạo hiện tượng "lạm phát chồng lạm phát" và bong bóng tài sản mới.
Thử tưởng tượng một lượng tiền khổng lồ nhanh chóng được bơm vào các dự án hạ tầng lớn trong khi năng lực hấp thụ của nền kinh tế có giới hạn (chậm và rất chậm). Hệ quả làm cho giá cả của vật liệu xây dựng (cát, đá, thép) tăng vọt đột ngột, tạo khan hiếm (giả) nguyên liệu và kích hoạt trở lại làn sóng đầu cơ đất đai, kiểu "ăn theo" qui hoạch (hưởng lợi từ các nhà ga metro, nút giao cao tốc).
Thật là quá dễ để tăng trưởng GDP dựa vào đổ bê tông, làm đường và đào kênh. Nhưng đây không phải là phương cách của một giàn lãnh đạo thông minh, có tầm nhìn hay một lớp lãnh đạ "kỹ trị".
Đào đất rồi lấp đất cũng tạo được tăng trưởng GDP trong ngắn hạn, nhưng việc này không đồng nghĩa với việc nền kinh tế đã chuyển đổi thành công.
Thử đặt vấn đề:
Nếu sau khi các tuyến cao tốc, cảng biển và metro hoàn thành mà doanh nghiệp công nghệ nội địa vẫn không lớn lên, R&D vẫn chỉ ở mức 0,4% GDP, và trường đại học vẫn không đào tạo được kỹ sư làm chủ công nghệ đường sắt hay bán dẫn, thì hạ tầng đồ sộ này rốt cuộc cũng chỉ phục vụ tốt hơn cho việc vận chuyển linh kiện lắp ráp của các tập đoàn FDI nước ngoài.
Nhưng tài phiệt FDI đâu có "ăn đời ở kiếp" với VN ?
Muốn mục tiêu 10% bền vững, hạ tầng chỉ đóng vai trò "mở đường". Động lực cốt lõi quyết định Việt Nam có hóa rồng hay không vẫn là "chất lượng thể chế", "phân bổ dòng vốn" và mức độ "đầu tư vào vốn con người".
Câu hỏi hơi bị hay là làm thế nào để "định lượng chất lượng thể chế" ? Nói khơi khơi "thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn" là nói nghe cho sướng tai, vì nó không có ý nghĩa gì cả. Mai mốt trở lại chuyện này.
Xi măng, sắt thép... (phát triển với nền tảng kiểu Vingroup) sẽ không bằng được "bộ óc" của con người trong thời đại công nghệ số.
Trương Nhân Tuấn
Không có nhận xét nào