Header Ads

  • Breaking News

    Vụ án Về Kinh Bắc 1982–1985 Kỳ 7. Hết

    Kỳ 7. Hết

    Tác giả: Hoàng Hưng

     Khởi đăng: September 7, 2026

    Trái: Hoàng Cầm-Văn Cao thăm nhà Hoàng Hưng ở Sài Gòn sau “Đổi mới” (đầu thập niên 1990). Từ phải sang: nhà điêu khắc Nguyễn Hải, Hoàng Cẩm, Văn Cao và phu nhân, nhà điêu khắc Trương Đình Quế, vợ chồng Hoàng Hưng. Phải: Hoàng Hưng đọc Thơ Tù ở trường Columbia College Chicago (2003)


    Riêng có chuyện xuất cảnh thì tối kỵ. Chắc người ta ngại tôi ra ngoài sẽ trở thành nhân chứng sống cho “thành tích nhân quyền” của chế độ.

    Năm 1992 (1993?), một cựu học sinh người Tàu của bạn tôi, nhà thơ-nhà giáo Trịnh Hoài Giang ở trường Trung học Trung Hoa Hải Phòng, nay là chủ một công ty Du lịch ở Quảng Đông mời đi một chuyến. Mặc dù đã được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam ký công văn cho đi, nhưng Cục An ninh Tư tưởng-văn hoá đã bác bỏ.

    Sau việc này, anh Hồng Đăng, Phó Tổng Biên tập thường trực báo Lao Động, bạn học cũ của Trương Hoà Bình lúc đó là Cục phó Cục A25, đã gợi ý sắp xếp cho tôi gặp Bình “giải toả chuyện cũ” để có thể xuất ngoại, nhưng tôi đáp: “Tôi không có việc gì để gặp họ, trừ khi họ muốn gặp tôi để xin lỗi về việc đã bắt và giam giữ tôi oan uổng”.     

    Đến năm 1999 tôi đã có cơ hội ra nước ngoài đọc thơ, nhưng đó là một “quả pháo xịt”: Chương trình giới thiệu văn học đương đại Việt Nam do “Nhà Văn hoá Thế giới” Berlin tổ chức khá công phu trong khuôn khổ “Năm Văn hoá Việt Nam”, đã trân trọng giới thiệu một chùm thơ tôi trong brochure, nhưng các nhà văn trong nước được mời không ai được phép xuất cảnh.

    Tôi là người đầu tiên trong số các nhà văn được mời dịp ấy bị từ chối xuất ngoại. Theo lời thuật của Tổng Biên tập báo Lao Động Phạm Huy Hoàn, thì Trưởng ban Tuyên huấn Hữu Thọ đã khiển trách anh vì tội ký giấy cho tôi đi, với lý do: sứ quán Việt Nam tại Đức báo về: “Tụi nhà văn phản động trong nước và hải ngoại gặp nhau ở đây sẽ nhân cơ hội ra một tuyên bố về nhân quyền”. Anh giở sổ tay cho tôi đọc nguyên văn lời khiển trách của ông Hữu Thọ, nhưng dặn tôi không được nói cho ai biết!

    Sau này được biết buổi giới thiệu thơ tôi tại Berlin vẫn được tiến hành, bản tiếng Việt do anh Trương Hồng Quang, Tiến sĩ văn học, đọc… giùm tác giả, một bạn người Đức đọc bản dịch tiếng Đức của chị Thái Kim Lan.

    Mãi đến năm 2000, tôi được Bộ Văn hoá Truyền thông Pháp mời sang giao lưu (dịch tác phẩm văn học). Nhờ nhà báo Thu Hồng (báo Thể Thao-Văn hoá, vợ cũ của nhà văn Nhật Tuấn) bảo lãnh trực tiếp với ông Thiếu tướng Nguyễn Văn Hưởng Tổng cục trưởng An ninh (sau là Thượng tướng Thứ trưởng đầy quyền lực), tôi mới được ông đích thân cho phép ra khỏi nước mà không kèm “điều kiện” nào. Trong buổi tiếp tôi khá lịch sự tại Văn phòng Bộ Công an, ông nói: “Tôi đã nhiều lần nói với A25 là các anh không biết làm việc với trí thức!” Khi tôi khẳng định “tôi là trí thức độc lập” thì ông nói: “Trí thức thì phải độc lập mới là trí thức chứ! Đi giao lưu văn hoá thì anh đi là đúng rồi, chả lẽ cử nông dân đi?” Ông nói thêm: “Tôi biết anh sẽ thăm các bạn mình ở bên đó (ý nói các nhà văn Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương, các nhà báo Thuỵ Khuê, Bạch Thái Quốc…), tôi không dám dặn dò gì, chỉ nhắc anh đừng để bọn xấu lợi dụng bôi nhọ tên tuổi anh và đừng làm gì ảnh hưởng đến tôi là người bảo lãnh cho anh đi”.

    Kể từ đó, tôi liên tục có những chuyến đi giao lưu văn học ở Pháp, Đức, Mỹ. Điều đáng nói là: ở nước ngoài, tôi quan hệ thoải mái với các trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo; thoải mái phát biểu suy nghĩ của mình về các vấn đề của đất nước; trả lời phỏng vấn các đài phát thanh… nhưng chưa gặp rắc rối gì với an ninh Việt Nam khi trở về nước. Có lẽ vì tôi luôn nói thật lòng, và giữ góc nhìn khách quan, tỉnh táo trước những cái “oái oăm” của lịch sử hiện đại nước mình, tuy không né tránh việc phản biện những cái sai, bất cập của nhà nước! Và tôi giữ 2 nguyên tắc: không nhận tiền của bất cứ ai/ bất cứ nhóm, tổ chức nào; không quan hệ với bất cứ tổ chức chính trị nào.

    *

    Có mấy chuyện thú vị về “hậu vụ án Về Kinh Bắc”:

    Năm 2003, khi tôi về hưu tại báo Lao động, do khiếu nại của tôi, báo Lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kiến nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trả lương hưu cho tôi theo cả thời gian làm việc trước khi bị bắt (quy định phi lý phi nhân của Bộ này là vứt bỏ hết thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên trước khi họ bị kỷ luật hay bắt giam, như đã áp dụng với nhà văn Bùi Ngọc Tấn). Lý do được nêu rõ trong công văn: Ông Hoàng Hưng bị bắt giam vì cầm tập thơ Về Kinh Bắccủa Hoàng Cầm mà thời đó coi là phản động, nay xã hội đã có nhìn nhận khác, quyền lợi của ông Hoàng Hưng phải được trả lại. Kiến nghị bị từ chối. Tôi gửi kiến nghị cho các bạn là nhà văn Lê Lựu, nhà quay phim Kiều Thẩm từng “lăng xê” cô đội trưởng du kích bảo vệ cầu Hàm Rồng là Nguyễn Thị Hằng hiện là Bộ trưởng Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội, và nhà báo Nguyễn Thị Hằng Nga, Tổng Biên tập Báo Người Lao Động, đại biểu Quốc hội, vợ người bạn tôi là nhà báo Nguyễn Quang Thọ (Hằng Nga là cháu của nguyên Bộ trưởng Công an Mai Chí Thọ), kèm theo lời “doạ sẽ biểu tình ngồi trước Quốc hội nếu kiến nghị không được giải quyết”. Vừa lúc bà Hằng vào Sài Gòn, chị Hằng Nga bèn đưa thẳng hồ sơ cho bà trong một bữa ăn. Thế là bà thay đổi ngay quyết định cũ (do một thứ trưởng ký), phá lệ! Và tôi được hưởng đủ lương hưu đúng theo thời gian làm việc (từ 1965).

    Vợ chồng Hằng Nga-Quang Thọ đến dự buổi ra mắt sách “Hoàng Cầm về Kinh Bắc” ở TPHCM năm 2022

    Năm 2002, sinh nhật thứ 80 nhà thơ Hoàng Cầm, vài đứa em thân thiết đến mừng anh, có cả Tướng Phạm Chuyên, Giám đốc Sở Công an Hà Nội. Ông ta nói: “Khi nhận chức ở Hà Nội, tôi đọc hồ sơ vụ Về Kinh Bắc, thấy sao mà ấu trĩ quá!”. Tôi bèn nói: “Vậy thì anh cho tôi xin lại tập bản thảo mà anh Hoàng Cầm chép tặng tôi đi.” Ông hứa sẽ tìm, nhưng ít lâu sau nhắn qua một nhà báo ở báo Lao Động rằng tập bản thảo đã bị thất lạc.

    Năm 2012, tôi được biết một nhà sưu tập sách ở Sài Gòn đã mua được tập Về Kinh Bắcmà Hoàng Cầm chép tặng tôi (tang vật chính của vụ án 30 năm trước đó). Và anh đã scan cho tôi, một bản scan rất đẹp, rõ cả chữ ký xác nhận từng trang của tôi, đủ cả mấy hình bìa của Văn Cao, Trần Thiếu Bảo, chỉ thiếu mấy bức phụ bản của Bùi Xuân Phái!

    Năm 2003, trên một chuyến bay từ TPHCM ra Hà Nội, tình cờ tôi ngồi ngay bên cạnh Hoàng Phước Thuận, viên Công an trực tiếp hỏi cung tôi trong vụ Về Kinh Bắc. Quả đáng tội, hồi đó ông và tôi đã từng khá căng thẳng với nhau. Sau Đổi mới, thì ông là một cộng tác viên của báo Lao Động. Nay ông tự giới thiệu là Cục phó Cục chống khủng bố. Tôi không nhận ra ông (ông phương phi hẳn ra so với mươi năm trước), ông vui vẻ chủ động bắt chuyện. Ông nói nhiều chuyện về văn nghệ, báo chí, rồi bỗng bảo tôi thế này: “Tập thơ Về Kinh Bắchay thật! Anh phải viết một kịch bản phim về nó đi! Tôi biết chỉ có anh là viết được thôi!”

    Tôi không viết được kịch bản phim Về Kinh Bắcnhư gợi ý của ông Thuận, nhưng cũng tự an ủi là về cuối đời, lúc tuổi đã cao sức đã yếu mình còn gắng sức làm được một việc có ý nghĩa: Năm 2022, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoàng Cầm, tôi đã có sáng kiến làm tập sách “Hoàng Cầm về Kinh Bắc”, tôi là chủ biên; và cùng bạn bè (trong đó có pianist Đặng Thái Sơn, TS Nguyễn Quang A) và gia đình cố thi sĩ tổ chức in ấn cuốn sách rất đẹp; 2 buổi ra mắt sách hoành tráng ở Viện Pháp Hà Nội và Đường Sách TPHCM đã là những sự kiện văn hoá đáng kể. Cuốn sách không tình cờ in toàn văn và các dị bản của Về Kinh Bắc với những bài nghiên cứu, phê bình trong-ngoài nước, kèm cả những phụ bản quí giá: bản nháp đầu tiên Về Kinh Bắc, bìa của Văn Cao, Trần Thiếu Bảo và mấy trang chép tay của Hoàng Cầm chép tặng tôi (tang vật vụ án năm xưa), mấy bản “Hoàng Cầm ca” của Phạm Duy… Bản thảo đã được nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, giám đốc NXB Hội Nhà văn duyệt không bỏ 1 chữ, bất chấp “nhạy cảm”!

    Trong buổi ra mắt sách trọng thể và đông đảo tại Viện Pháp ở Hà Nội, anh Thiều đã lên sân khấu “cảm ơn nhà thơ Hoàng Hưng là người đã có công cho ra đời cuốn sách quí này”.

    “Cơ quan chức năng” đã lặng lẽ để cho 2 buổi ra mắt sách diễn ra suôn sẻ, nhưng trước đó đã căn dặn kỹ lưỡng những người tổ chức là “không được nhắc gì đến chuyện “vụ án”!!!

    Hoàng Hưng giới thiệu sách Hoàng Cầm về Kinh Bắc tại Viện Pháp Hà Nội 2022

    Trong những phụ bản lần đầu được công bố, lạ nhất là bản nháp đầu tiên Về Kinh Bắc của tác giả, với rất nhiều những gạch xoá sửa câu sửa chữ, kể cả bài “Lá diêu bông” mà chính tác giả luôn kể như một huyền thoại (nghe ai đọc trong giấc mơ, thế là chép ra giấy không sửa một chữ!). Tôi đã được một sĩ quan an ninh tặng cho bản copy của nó (chắc là anh lấy được khi thanh lý hồ sơ vụ án năm xưa). Anh có nhã ý tặng tôi sau khi theo dõi cuộc trình bày của tôi về hồ sơ “Thoát Trung về văn hoá” (mà tôi tổ chức trên báo mạng van viet.info) ở trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật năm 2015.

    THAY LỜI CUỐI

    Cuối năm 2015, tức 30 năm sau khi tôi ra tù, nhà văn-nhà báo Phùng Nguyễn ở báo mạng Da Màu (California, Mỹ)  có cuộc phỏng vấn tôi, trong đó phần quan trọng là về chuyện tù đày.

    Xin trích bài phỏng vấn, như cái nhìn hồi cố của tôi về chuyện “được-mất” của thời gian ở tù:

    Phùng Nguyễn:

    Thưa anh Hoàng Hưng, là “một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của ‘thế hệ chống Mỹ’”, và mặc dù “tư tưởng ngày càng ‘diễn biến hòa bình’ do tác động của cuộc sống và sách vở tàn dư của chế độ Sài Gòn,” vào năm 1982 anh không phải là người bị chế độ chú ý cho đến khi anh, con cá hẩm hiu, vô tình chui đầu vào lưới. Đã ba mươi năm trôi qua kể từ ngày anh ra tù (30/10/1985) sau khi nhà cầm quyền “cất vó” Về Kinh Bắc và trao tặng anh 39 tháng tù giam. Nhìn lại, vụ án Về Kinh Bắc đã đóng vai trò gì trong đời sống, trong tư duy, và trong hành động của Hoàng Hưng suốt ba thập kỷ qua?

    Hoàng Hưng:

    Ở tù, nhất là tù Cộng sản, dĩ nhiên là khổ. Không ít người đã chịu nhiều đau thương, bị tra tấn, hành hạ dã man, thậm chí bị giết dần trong lao tù và các trại cải tạo. Riêng chế độ lao tù của tôi thì không đến nỗi quá khắc nghiệt, có lẽ do hoàn cảnh chung của Việt Nam lúc đó kiệt sức sau khi bị Tàu Cộng đánh phá nên buộc phải “mở trại” cho các gia đình tù nhân thả sức tiếp tế. Với tôi, đáng lên án nhất là việc bắt tôi đi tù 39 tháng đã gây cho gia đình vợ dại con thơ của tôi rất nhiều khổ sở.

    Sau 30 năm, giờ nhìn lại, tôi hơi thấy buồn cười là có khi mình phải cảm ơn thời kỳ ấy!

    Đầu tiên là nhờ nó mà tôi học được tiếng Anh. Sau thời gian đi “cung” liên tục căng thẳng đầu óc, thì tôi giành toàn bộ thời gian từ lúc mở mắt đến khi nằm lăn ra ngủ để… tự học. Vì ở ngoài lo chạy ăn tối ngày không bụng dạ nào mà học. Trong xà lim tôi tự học qua sách Ngữ pháp tiếng Anh (của Việt Nam), từ điển Anh-Pháp bỏ túi (của Pháp), và báo Moscow News (của Liên Xô)! (Lần đầu sang Mỹ năm 2003, phải “lecture” về Thơ Việt Nam hiện đại ở Đại học Washington, khi tôi xin “excuse my English…” vì lý do tự học như trên, nói không chuẩn nghe không rành, cả phòng vỗ tay hồi lâu!). Ra tù một cái là kiếm sống bằng dịch các bài báo, và cuốn sách đầu tiên: “The Jungle Book” của R. Kipling. Với cái vốn khởi đầu ấy, tôi bắt đầu tìm hiểu thơ Mỹ, vừa dịch vừa học, đến nay cũng ra được vài tập. Cái này giống nhà thơ Tuân Nguyễn bị tù thời “Xét lại”, (tình cờ trước đây cũng ở trại Cẩm Thủy Thanh Hóa như tôi), trong tù anh tự học tiếng Nga và ra tù trở thành dịch giả, mở đầu là cuốn “Chó Bim trắng tai đen”.

    Do tập trung học tiếng Anh suốt ngày, đêm đến tôi ngủ rất ngon. Một sáng sớm tỉnh dậy thấy “Ông quản giáo” đứng ngoài song sắt nhìn mình từ lúc nào, “ông” thốt lên: “Thằng này trông như đ. phải tù!”

    Thứ hai: nhờ thời gian tù mà tôi có được 30 bài thơ, chủ yếu làm trong đầu, ra tù nhớ lại, rồi thêm bớt, thành tập “Ác mộng”, trong đó có những bài được nhiều người đọc tán thưởng, như “Một ngày”, “Người về”, “Mùi mưa hay bài thơ của M”. Cũng nhà tù đã tạo cho tôi một bước ngoặt về thi pháp, từ lãng mạn, ấn tượng, vụt hiện… qua một thứ “tân cổ điển” hay có nhà nghiên cứu gọi là “hiện đại Á châu”. Hình như… đau đời, tâm tư hơn?

    Tóm lại, ở tù là mất tự do, nhưng trong hoàn cảnh ấy tôi vẫn cố giữ cho mình một “tự do nội tâm” không ai xâm phạm được. Và cũng như thế, khi ra sống ngoài “nhà tù lớn”, tôi vẫn cố giữ lấy tự do cá nhân của mình, mà “quản ngục” bây giờ, ngoài Ban Tuyên giáo của đảng Cộng sản, còn có anh chàng rất lợi hại mang tên “danh – lợi”.

    Điều hết sức quan trọng nữa: Ở tù ra, tôi dứt điểm được cái tư cách “cán bộ báo chí hạng bét”, chân trong-chân ngoàichân ngoài dài hơn chân trong hay đồng sàng, dị mộng mà trước đây dù sớm chán ghét nhưng mãi không đủ dũng cảm để từ bỏ; tự nhiên được đứng hẳn vào hàng ngũ “bên lề” cùng với các đàn anh Nhân Văn-Giai Phẩm, Xét lại…, để đến khi “Đổi mới” rồi khi phong trào Dân chủ nhóm lên, tôi thoải mái tham gia như cá gặp nước, như hổ về rừng, chẳng vướng bận chút quyền lợi gì do chế độ bố thí, kể cả các thứ “bánh vẽ”, nên không hề lâm cảnh ngộ “há miệng mắc quai” như một số người khác. Thử hình dung: Nếu không bị tù, thì giờ này tôi có thể vẫn chỉ là một chú bé nhiều tuổi viết báo “lề phải” lăng nhăng, viết theo chỉ đạo của “trên”, thỉnh thoảng “ghé gẩm” vài chữ nói kháy, chọc ngoáy tí ti cho bõ tức là cùng chứ gì?

    Ra tù, sau vài năm luyện “nghề báo thứ thiệt” tại vài tạp chí khoa học, kinh tế, với sự dẫn dắt của anh em họa sĩ-nhà báo Sài Gòn Hoàng Ngọc Biên-Hoàng Ngọc Nguyên (trước khi vào tù tôi chỉ quen làm báo “bao cấp”, tức “giả báo”), gặp lúc báo Lao Động làm cuộc “cách mạng” với tờ Lao Động Chủ nhật vào năm 1990, chính cái lý lịch “tà-ru” (“bộ lạc tà-ru” là sáng tạo của André Menras, cựu tù Côn Đảo dưới chế độ Sài Gòn) của tôi đã khiến Tổng biên tập “Đảng viên nhưng mà tốt” là Tống Văn Công khoái chí mời về phụ trách trang Văn hóa-Văn nghệ cùng lúc với họa sĩ Chóe “cựu tù double”. Một thời gian ngắn ngủi nhưng hạnh phúc của tôi trong nghề báo chính là ở báo này, cùng làm việc với những nhà báo dày kinh nghiệm của Sài Gòn cũ: Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức… và những cây bút cấp tiến tài hoa của miền Bắc như Lưu Trọng Văn. Tôi còn nhớ khi được mời làm Trưởng ban Văn hóa-Văn nghệ, tôi từ chối, với lý do “quan điểm của tôi không giống quan điểm Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng” thì các vị lãnh đạo Báo lại bảo: “Thế mới cần đến anh chứ!” Tôi đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong những bài giới thiệu các nhân vật Nhân Văn-Giai Phẩm như Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, bênh vực tiểu thuyết Miền hoang tưởng” của Nguyễn Xuân Khánh (bị báo Công an và Tuyên giáo đánh), quảng bá tranh trừu tượng, minh oan cho Alexandre de Rhodes… Còn Lưu Trọng Văn thì đã đăng bài phỏng vấn một nghệ sĩ danh tiếng về Đảng, với cái tít: “Đảng phải tự lột xác nếu không muốn bị lột xác!”. Tất nhiên làm báo kiểu chúng tôi thì chẳng mấy chốc bị tuýt còi. Vì không muốn gây phiền cho tờ báo mà mình đang làm việc, tôi đã viết đơn “xin từ nhiệm trưởng ban” sau khi công bố tập thơ “Người đi tìm mặt” (1994) trong đó có mấy bài Thơ tù (công an đã “hành” nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB một thời gian khá dài, và “méc” ông Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động là chủ quản báo Lao Động của tôi).

    Cũng thời gian này, tôi cùng với cố nhà văn Nhật Tuấn làm tập san văn chương Văn học & Dư luận (do nhà văn Nhật Tiến tài trợ), ra được mấy số thì… bị rút giấy phép, sau khi đăng bài thơ “Phận chó” của cố họa sĩ Tường Vân ở Hải Phòng (… bảo ra đường/ ra đường/ bảo vào gầm giường/ vào gầm giường/ bảo sủa/ sủa/ bảo im/ im/ cứ thế triền miên/ một đời con chó).

    Báo Lao Động thời Đổi mới nhanh chóng tan đàn xẻ nghé vì nội bộ mất đoàn kết tạo cớ cho lãnh đạo cao cấp của Đảng và An ninh can thiệp. Không còn diễn đàn trong nước, thì gặp lúc nhà văn Phạm Thị Hoài mở trang mạng talawas ở Berlin, tôi đã sớm cộng tác với nó và trở thành biên tập viên công khai, chuyên về văn hóa văn nghệ quốc nội, rồi người viết mục bình luận. Talawas nghỉ, thì xuất hiện Bauxite Vietnam, tôi cũng vinh dự tham gia từ những ngày đầu rồi làm biên tập viên cho nó cho đến khi vanviet.info ra đời do tôi đồng sáng lập và biên tập.

    Tóm lại, ra tù tôi mới được làm báo “thứ thiệt”, báo “lề giữa” và “lề trái”!

    Cũng do thân phận công dân hạng hai của một kẻ có “tiền án tiền sự”, tôi biết mình phải tự lo lấy việc xuất bản thơ phú của bản thân, không hòng mong được người ta đem tiền thuế của dân mà in sách cho mình. Sau “Đổi mới”, tôi là kẻ đầu tiên bỏ tiền tự in “Thơ ngoài luồng” với giấy phép mua của các nhà xuất bản (“Ngựa biển” 1988), sau đó là “Người đi tìm mặt”, “Hành trình”, “Thơ Federico Garcia Lorca”, “Bài hát chính tôi” của Walt Whitman). Đó là không kể mấy cuốn sách dịch được tài trợ của nước ngoài (Thơ Apollinaire, 15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX, Thơ André Velter, “Trường ca Aniara” của Harry Martinson, tiểu thuyết “Đồ vật” của Georges Perec). Đến những năm gần đây thì cái tên tôi rất khó qua nổi bàn duyệt của Cục Xuất bản, tôi bèn tự làm tủ sách HHEBOOK (vào năm 2012, dịp tôi tròn 70 tuổi) để tự quảng bá online.

    Hoàng Hưng


    Không có nhận xét nào