Header Ads

  • Breaking News

    Câu chuyện hậu Pierre Poivre

     Câu chuyện hậu Pierre Poivre 

    CUỘC HỘI NGỘ TẠI PARIS GIỮA HOÀNG TỬ CẢNH VÀ VỊ TỔNG THỐNG MỸ TƯƠNG LAI (bài viết mới)

    Lê Nguyễn

    20.10.2026

    “…Trong bức thư trên, ông viết: ”Vào thời điểm ấy, từ năm 1784 đến năm 1789, tôi đang ở Pháp. Tình cờ khi đó có một Hoàng tử Đàng Trong đang du hành tại đây và chuẩn bị trở về quê hương. Tôi được Hoàng tử hứa rằng ngài sẽ gửi cho tôi một ít giống lúa. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ nhận được số giống ấy”

    (tư liệu từ Monticello, trung tâm nghiên cứu và lưu giữ di sản của Thomas Jefferson).

    Điều đáng lưu ý là trong suốt những năm sau 1787, khi viết về việc tìm giống lúa Đàng Trong, không bao giờ Jefferson nhắc tới Giám mục Bá Đa Lộc, người duy nhất mà ông nói đến luôn là “ông hoàng tử xứ Đàng Trong” (Prince of Cochin-China), cho dù khi gặp nhau, vị hoàng tử mới lên 7. 

    Dù thế nào, cũng có thể khẳng định rằng cuộc hội ngộ giữa hoàng tử Cảnh và Thomas Jefferson vào năm 1787 là lần gặp đầu tiên giữa một người Việt và một người Mỹ trong lịch sử hai nước”.

    Trong chuyến viếng thăm Việt Nam năm 2000, vào ngày 17.11.2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có buổi nói chuyện với các sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong cuộc gặp gỡ đó, ông Clinton tiết lộ một chi tiết thú vị về Thomas Jefferson (1743-1826), vị tổng thống thứ ba của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, khi còn là một đặc sứ, đã từng đưa các giống lúa của VN về trồng trong trang trại của ông ở bang Virginia (Mỹ). Tiếc rằng điều tiết lộ của ông Clinton chỉ mới đúng 50% sự thật, vì dù muốn đến đâu thì cuối cùng ông Jefferson cũng đã không có được giống lúa của Đại Việt để về trồng ở Virginia. Ngoài ra, ông Clinton đã không nói đến một sự kiện còn thú vị hơn nữa, đó là từng có một cuộc gặp gỡ giữa Jefferson với một ông hoàng Á Đông mới 7 tuổi: hoàng tử Cảnh, con trai chúa Nguyễn Ánh, đang có mặt ở Paris vào năm 1787.

    ***

    Khi đang làm Đặc mệnh toàn quyền Mỹ tại Pháp (1784-1789), ngoài nghề ngoại giao, Thomas Jefferson còn có một đam mê kỳ lạ, đó là tìm đọc tư liệu về những giống lúa nhiệt đới của phương Đông và tìm cách xin đưa về trồng trên đất Mỹ nhằm thay thế những giống lúa bản địa đã thoái hóa. 

    Trong thời gian này, Jefferson tình cờ tìm thấy tập sách có nhan đề: “Voyages d’un Philosophe, ou Observations sur les mœurs et les arts des peuples de l’Afrique, de l’Asie et de l’Amérique” (Những chuyến du hành của một nhà triết học, hay những khảo sát về phong tục và nghệ thuật của các dân tộc châu Phi, châu Á và châu Mỹ), xuất bản năm 1768. 

    Quyển sách không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh của Pierre Poivre, người mà chúng ta vừa đề cập đến trong bài viết trước. Khi về đến Pháp, ông ta chỉ ghi chép một số sự việc trong chuyến đi Đại Việt vào hai năm 1749-1750 và gửi cho Viện Hàn lâm Lyon. Về sau, một số nhà xuất bản đã lấy các tư liệu đó, sắp xếp lại, in thành sách (nhan đề trên) mà không đề tên tác giả, cũng như không hỏi ý kiến Poivre. 

    Trong du ký của mình, thương nhân này đã giới thiệu với chính quyền các thuộc địa Ile de France và Bourbon (nay là Mauritius và Réunion) các loại hạt nhục đậu khấu, đinh hương và nhiều chủng loại thảo mộc khác. Tuy nhiên, điều quyến rũ nhất đối với Thomas Jefferson là phần Poivre miêu tả giống lúa vùng cao của Đại Việt: “ Người Đàng Trong trồng 6 loại lúa, lúa hạt nhỏ, có hạt nhỏ, dài và trong suốt, đây là loại ngon nhất và người ta dành cho người bệnh ăn. Loại lúa to có hạt hình tròn. Lúa gạo đỏ có hạt phủ một lớp da màu đỏ nhạt, bám chắc đến nỗi khó tách chúng ra được. Cả ba loại lúa hạt này được người dân dùng để tự nuôi sống và có rất nhiều. Chúng đòi hỏi phải có nước và đất trồng chúng phải ngập nước. Cuối cùng, họ trồng hai loại lúa khô khác, có nghĩa là chúng tăng trưởng trong đất khô cằn, và cũng như lúa mì của chúng ta, chúng không đòi hỏi một thứ nước nào ngoài nước mưa…” (Georges Taboulet – La geste française en Indochine – Paris 1955, trang 139).

    Ngoài tài liệu trên, Jefferson còn được biết khi Pierre Poivre giữ nhiệm vụ quản lý hành chánh hòn đảo Ile de France, ông ta đã trồng được tại đây một giống lúa phát triển tốt lấy giống từ Đàng Trong (Cochin-China).

    Sau khi tiếp nhận những thông tin thú vị xuất phát từ Pierre Poivre, Jefferson đã viết thư cho William Drayton, chủ tịch Hội cải tiến nông nghiệp ở bang South Carolina (Mỹ): “Lúa khô của Đàng Trong nổi tiếng là trắng nhất, vị ngon nhất và năng suất cao nhất”. Quan điểm này của ông được nhiều người chia sẻ và ông tự thấy có trách nhiệm gây dựng một kho hạt giống lúa để thay thế dần các cây lương thực đang trồng. 

    Theo một vài tư liệu ít phổ biến, trong số những người mà Jefferson đưa vào danh sách cần tiếp xúc, có một nhà khoa học Anh, một nhà hiền triết người Pháp, một thuyền trưởng người Mỹ và một ông hoàng phương Đông. Người ta có thể suy đoán nhà hiền triết người Pháp mà Jefferson cần tiếp xúc là Pierre Poivre, tác giả những du ký hấp dẫn mà ông đã có dịp đọc tới. Còn ông hoàng phương Đông trong danh sách tiếp xúc của Jefferson chính là hoàng tử Cảnh, người được chúa Nguyễn Ánh cho đi theo giám mục Bá Đa Lộc làm con tin để thương thuyết với triều đình nước Pháp về những vấn đề có lợi cho cả hai phía. 

    Năm 1787 đó, sự hiện diện của phái bộ Đại Việt đến từ một châu lục xa xôi, đặc biệt sự xuất hiện của một hoàng tử nhỏ bé mới 7 tuổi đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn bộ cung đình nước Pháp. Vì yêu mến cậu bé xinh xắn mà hoàng hậu Marie Antoinette đã tạo điều kiện cho cậu chơi đùa với con bà là hoàng thái tử Louis Joseph trạc tuổi cậu. Cậu còn được bà hoàng chỉ thị cho nhà làm tóc nổi tiếng Leonard tạo mẫu tóc mới và họa sĩ cung đình Maupérin vẽ cho cậu bức chân dung trong trang phục nửa Âu, nửa Á nay vẫn còn được trưng bày tại Chủng viện Hội Truyền giáo hải ngoại Paris. 

    Hoàng tử Cảnh, giám mục Bá Đa Lộc cùng đoàn tùy tùng đến Paris vào tháng 2.1787 và mãi đến ngày 28.11.1787, hai bên mới ký xong thỏa ước Versailles. Trước khi phái bộ Đại Việt rời nước Pháp vào tháng 12.1787, Thomas Jefferson kịp xin hội kiến với hoàng tử Cảnh và đoàn tùy tùng. Xét về địa vị xã hội của mỗi người trong phái bộ thì hoàng tử Cảnh là người có vị thế cao hơn cả, vì thế các tư liệu hiếm hoi đề cập đến cuộc hội kiến này đều nhắc tới hoàng tử Cảnh là người trực tiếp hội kiến với Jefferson. Song trên thực tế, có lẽ ông hoàng mới 7 tuổi này chỉ ngồi làm vì, mà chủ động thực sự trong cuộc hội kiến là giám mục Bá Đa Lộc và hai quan lại được chúa Nguyễn Ánh cắt cử theo hộ vệ hoàng tử Cảnh là Phó Vệ úy Phạm Văn Nhơn và Chánh cơ Nguyễn Văn Liêm. 

    Trong cuộc gặp ngắn ngủi ấy, Jefferson nhận được lời hứa của hoàng tử Cảnh (và phái bộ) là sau khi về đến Đại Việt, họ sẽ gửi cho ông các giống lúa vùng cao. Trong một nhật ký viết vào năm 1788, ông đã ghi:” …tôi rất hi vọng nhận được lúa từ Đàng trong, ông hoàng trẻ tuổi của xứ sở ấy vừa mới rời khỏi nơi đây, đã cam kết là sẽ gửi tới cho tôi…” 

    Nhưng vào năm 1788, khi Jefferson viết những dòng trên, thì hoàng tử Cảnh và phái bộ còn mải ở Pondichéry, thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ, để tiếp xúc với bá tước De Conway, tổng chỉ huy quân sự trong vùng, người được triều đình Pháp giao trách nhiệm thực thi thỏa ước Versailles. Trên thực tế, thỏa ước được ký kết vào thời điểm nước Pháp đang trải qua những khó khăn lớn về tài chánh và không phải là vô tình mà triều đình Pháp đã giao việc thi hành cho Thống đốc De Conway. Mối bất đồng trầm trọng từ lâu giữa Bá Đa Lộc và De Conway cùng tình hình tài chánh bất ổn của nước Pháp khiến cho thỏa ước Versailles hoàn toàn bất khả thi. 

    Để gỡ thể diện với chúa Nguyễn Ánh vì công tác bất thành, giám mục Bá Đa Lộc đã nán lại một khoảng thời gian dài trên đất Ấn Độ để quyên góp tiền mua một ít tàu nhỏ và chiêu mộ một số viên chức và sĩ quan Pháp không còn ở trong chính quyền và quân ngũ (Vannier, Chaigneau, Barisy, de Puymanel…), đưa đến Đàng trong để hỗ trợ chúa Nguyễn trong cuộc chiến chống anh em nhà Tây Sơn. Chính vì thế mà rời nước Pháp vào tháng 12. 1787, mãi đến ngày 15.6.1789, tức một năm rưởi sau, hoàng tử Cảnh, Giám mục Bá Đa Lộc cùng phái bộ mới rời Pondichéry để trở về Đàng Trong. 

    Đến lúc đó, tuy Jefferson vẫn còn ở Pháp (ông trở về Mỹ vào tháng 11.1789), song có lẽ sự chờ đợi mòn mỏi khiến ông không còn hi vọng nhận được hạt giống lúa như hoàng tử Cảnh và phái bộ đã hứa. Trong bức thư đề ngày 11.3.1789 gửi ông De Malesherbes, một người Pháp rất quan tâm đến thực vật học, Jefferson đã viết “Mục đích của tôi là tìm một giống lúa thuộc loại mọc trên những vùng đất cao ở xứ Đàng Trong (Cochin-China), loại lúa không cần tưới nước nào khác ngoài lượng mưa thông thường .... Nếu ông sẵn lòng quan tâm đến việc cung cấp cho tôi một ít hạt giống lúa khô ở Đàng Trong, ông sẽ mang lại một việc làm vô cùng cao quý cho những người nông dân của tôi..”

    Khi bức thư trên đến tay De Malesherbes, phái bộ hoàng tử Cảnh – Bá Đa Lộc còn lưu lại Pondichéry. Đến lúc trở về Gia Định vào tháng 6.1789, có lẽ sự bặt tin nhau suốt một năm rưởi và những lo toan khi cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang ở vào giai đoạn quyết liệt mà phái bộ Đại Việt đã không thực hiện lời hứa với Jefferson.

    Sau khi trở về Mỹ cuối năm 1789, Thomas Jefferson được Tổng thống đầu tiên của nước này là George Washington bổ nhiệm làm Bộ trưởng Ngoại giao.

    Đến tháng 3.1797, ông trở thành Phó Tổng thống (Tổng thống thứ 2 là John Adams) rồi trở thành Tổng thống thứ ba của nước Mỹ từ tháng 3.1801.

    Trong suốt hai nhiệm kỳ Tổng thống của Jefferson, từ tháng 3.1801 đến tháng 3.1809, có thể thấy rằng mối quan hệ với ông hoàng xứ Đàng Trong và giống lúa vùng cao vẫn tiếp tục ám ảnh ông. Ngày 1 tháng 12 năm 1808, ngay khi còn trong cương vị Tổng thống Mỹ, Thomas Jefferson đã gửi cho tiến sĩ Benjamin Waterhouse, nhà khoa học đồng sáng lập Trường Y khoa Harvard, một lần nữa nhắc đến hoàng tử Cảnh và giống lúa vùng cao Đại Việt mà ông không có duyên tiếp cận. 

    Trong bức thư trên, ông viết: ”Vào thời điểm ấy, từ năm 1784 đến năm 1789, tôi đang ở Pháp. Tình cờ khi đó có một Hoàng tử Đàng Trong đang du hành tại đây và chuẩn bị trở về quê hương. Tôi được Hoàng tử hứa rằng ngài sẽ gửi cho tôi một ít giống lúa. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ nhận được số giống ấy”

    (tư liệu từ Monticello, trung tâm nghiên cứu và lưu giữ di sản của Thomas Jefferson).

    Điều đáng lưu ý là trong suốt những năm sau 1787, khi viết về việc tìm giống lúa Đàng Trong, không bao giờ Jefferson nhắc tới Giám mục Bá Đa Lộc, người duy nhất mà ông nói đến luôn là “ông hoàng tử xứ Đàng Trong” (Prince of Cochin-China), cho dù khi gặp nhau, vị hoàng tử mới lên 7. 

    Dù thế nào, cũng có thể khẳng định rằng cuộc hội ngộ giữa hoàng tử Cảnh và Thomas Jefferson vào năm 1787 là lần gặp đầu tiên giữa một người Việt và một người Mỹ trong lịch sử hai nước.

    Lê Nguyễn

    20.10.2026


    Không có nhận xét nào