Chuyện bây giờ mới kể
Nguyễn Văn Tuấn/Úc Châu
23/10/2026
“….Nhưng chuyên gia thứ 5 lại có một cách nhìn hoàn toàn trái ngược.
Người này không chỉ đánh giá thấp đề tài mà còn đưa ra những nhận xét khiến chúng tôi phải gãi đầu đặt câu hỏi về sự am hiểu chuyên môn. Nhưng chúng tôi hiểu, trong nhóm chuyên gia cũng có người này, người kia, bình thường thôi.
Chẳng hạn:
“It is unnecessary to have the participation of foreign talented experts in the project implementation.”
(Việc có sự tham gia của các chuyên gia tài năng nước ngoài trong quá trình thực hiện đề tài là không cần thiết.)
Tôi là người từ nước ngoài duy nhứt tham gia dự án. Lúc đó tôi đã là Senior Fellow của NHMRC bên Úc rồi, và tôi mong muốn mình đem kinh nghiệm và kĩ năng về Việt Nam. Nhưng đọc nhận xét này, tôi thật sự ngạc nhiên. Một chương trình muốn phát triển năng lực nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, tại sao lại xem sự tham gia của chuyên gia quốc tế là không cần thiết? Mà, thời đó, ở Việt Nam rất hiếm người làm nghiên cứu qui mô lớn và phức tạp như thế. Khoa học hiện đại phát triển nhờ hợp tác quốc tế, chứ không phải nhờ đóng cửa với thế giới -- tôi nghĩ”.
Mới 10 năm trước…chứ xa xôi gì….

Đọc bài báo này làm tôi liên tưởng đến chuyện xưa, chuyện thuộc loại “Chuyện bây giờ mới kể”.
Chuyện xảy ra đúng 10 năm trước, nhưng đến nay tôi vẫn nhớ, bởi nó để lại cho tôi một bài học về cách đánh giá khoa học và cách ứng xử với những người muốn đóng góp cho quê hương.
Khoảng năm 2016, chúng tôi vừa khởi động Dự án Nghiên cứu Loãng xương Việt Nam (Vietnam Osteoporosis Study — VOS). Một trong những mục tiêu của dự án là giải trình tự gene của hơn 4.000 người Việt Nam nhằm tìm hiểu các yếu tố di truyền liên quan đến bệnh loãng xương và thoái hóa khớp. Đây là một công trình có qui mô lớn (trên thế giới), đòi hỏi nguồn tài chánh đáng kể.
Lúc đó, Bộ KHCN có chương trình FIRST, kêu gọi các nhóm nghiên cứu nộp đề án xin tài trợ. Chúng tôi nghĩ đây là một cơ hội tốt để đưa những công nghệ nghiên cứu tiên tiến về Việt Nam, đồng thời đào tạo một thế hệ nghiên cứu sinh và nhà khoa học trẻ.
Thế là chúng tôi dành nhiều thời gian soạn một đề cương dài khoảng 30 trang, trình bày chi tiết mục tiêu, phương pháp, công nghệ, nhân lực và những đóng góp dự kiến của dự án.
■ Bình duyệt đầy hi vọng
Vài tháng sau, chúng tôi nhận được kết quả bình duyệt.
Có 5 chuyên gia tham gia đánh giá. Tất cả nhận xét đều viết bằng tiếng Anh. Nhưng thú thiệt, tiếng Anh của một số người rất khó đọc, có những đoạn chúng tôi đọc mà không hiểu rõ họ muốn nói gì. Nhưng chúng tôi thông cảm.
Điều đáng mừng là 4/5 chuyên gia đánh giá cao dự án VOS và đề nghị tài trợ.
Một chuyên gia viết:
“It is a very good research project with great potential of expanding the network inside and outside Vietnam.”
(Đây là một đề tài nghiên cứu rất tốt, có tiềm năng lớn trong việc mở rộng mạng lưới hợp tác khoa học trong nước và quốc tế.)
Một chuyên gia khác nhận xét:
“The proposal is innovative and uses modern tools for the investigation. This is a new research project in Vietnam that focuses on building a database of genetic determinants of the association between osteoporosis and osteoarthritis for Vietnamese people.”
(Đề tài có tính sáng tạo, sử dụng những công cụ nghiên cứu hiện đại và hướng đến xây dựng cơ sở dữ liệu về các yếu tố di truyền liên quan đến bệnh loãng xương và thoái hóa khớp ở người Việt Nam.)
Những nhận xét đó cho thấy các chuyên gia hiểu mục tiêu khoa học và tiềm năng của dự án.
■ Bình duyệt nhói tim
Nhưng chuyên gia thứ 5 lại có một cách nhìn hoàn toàn trái ngược.
Người này không chỉ đánh giá thấp đề tài mà còn đưa ra những nhận xét khiến chúng tôi phải gãi đầu đặt câu hỏi về sự am hiểu chuyên môn. Nhưng chúng tôi hiểu, trong nhóm chuyên gia cũng có người này, người kia, bình thường thôi.
Chẳng hạn:
“It is unnecessary to have the participation of foreign talented experts in the project implementation.”
(Việc có sự tham gia của các chuyên gia tài năng nước ngoài trong quá trình thực hiện đề tài là không cần thiết.)
Tôi là người từ nước ngoài duy nhứt tham gia dự án. Lúc đó tôi đã là Senior Fellow của NHMRC bên Úc rồi, và tôi mong muốn mình đem kinh nghiệm và kĩ năng về Việt Nam. Nhưng đọc nhận xét này, tôi thật sự ngạc nhiên. Một chương trình muốn phát triển năng lực nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, tại sao lại xem sự tham gia của chuyên gia quốc tế là không cần thiết? Mà, thời đó, ở Việt Nam rất hiếm người làm nghiên cứu qui mô lớn và phức tạp như thế. Khoa học hiện đại phát triển nhờ hợp tác quốc tế, chứ không phải nhờ đóng cửa với thế giới -- tôi nghĩ.
Người này còn viết:
“This is new in Vietnam but it is not innovative and has a little actual value.”
(Đề tài tuy mới ở Việt Nam nhưng không có tính sáng tạo và có rất ít giá trị thực tiễn.)
Đây là một nhận xét mà tôi cho là thiếu cơ sở khoa học.
Vào thời điểm đó, các nhóm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới (kể cả nhóm của tôi ở Úc) đang sử dụng công nghệ giải trình tự gene và dữ liệu di truyền qui mô lớn để tìm hiểu cơ chế bệnh sinh và phát triển các mô hình dự báo nguy cơ bệnh tật. Chính nhóm chúng tôi ở Úc cũng đã tham gia hướng nghiên cứu này.
Ở Việt Nam, một cơ sở dữ liệu di truyền qui mô lớn dành riêng cho bệnh loãng xương và thoái hóa khớp vẫn chưa có. VOS được thiết kế để góp phần lấp khoảng trống đó.
Dĩ nhiên, một công nghệ đã được sử dụng trên thế giới không tự động trở thành sáng tạo chỉ vì được đưa về Việt Nam. Nhưng tính mới của một nghiên cứu không chỉ nằm ở công nghệ; nó còn nằm ở câu hỏi khoa học, thiết kế nghiên cứu, dữ liệu được tạo ra và những kiến thức mới mà nghiên cứu có thể đem lại.
Đánh giá một đề án nghiên cứu di truyền mà không phân tích những khía cạnh đó, chỉ kết luận rằng nó “not innovative”, theo tôi, là một cách bình duyệt thiếu công bằng.
Chưa hết, chuyên gia này còn phán:
“It can only make a small contribution to osteoporonis and osteoarthritis in Vietnam.”
(Đề tài chỉ có thể đóng góp một phần nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu loãng xương và thoái hóa khớp ở Việt Nam.)
Tôi không biết người bình duyệt dựa vào bằng chứng nào để đi đến kết luận đó. Một cơ sở dữ liệu di truyền của hơn 4000 người Việt Nam có thể phục vụ nhiều mục tiêu nghiên cứu, từ xác định các yếu tố nguy cơ di truyền, tìm hiểu mối liên hệ giữa loãng xương và thoái hóa khớp (và nhiều bệnh khác), đến phát triển những công cụ dự báo nguy cơ bệnh tật phù hợp với người Việt Nam.
Có thể nghiên cứu thành công, cũng có thể không đạt được tất cả những mục tiêu đặt ra. Đó là bản chất của nghiên cứu khoa học. Nhưng không ai có thể kết luận trước rằng một công trình chỉ có giá trị nhỏ nếu không đưa ra được một lập luận khoa học thuyết phục.
Điều đáng nói là những nhận xét tiêu cực đó không đi kèm với một phân tích phương pháp học đủ sức bác bỏ đề án. Không có bất cứ một nhận xét chi tiết nào; tất cả chỉ là những câu "trùm mền".
■ Kết cục nhớ đời
Và rồi, kết cục cuối cùng là dự án của chúng tôi không được tài trợ.
Tôi không biết ý kiến của chuyên gia thứ 5 đã có trọng lượng bao nhiêu trong quyết định sau cùng, vì chúng tôi không được cung cấp một lời giải thích đủ rõ. Nhưng sự tương phản giữa bốn đánh giá tích cực và một đánh giá tiêu cực, cùng với kết quả cuối cùng, khiến chúng tôi hết sức thất vọng.
Chúng tôi thất vọng không chỉ vì mất một khoản tài trợ. Tiền bạc có thể tìm từ những nguồn khác.
Điều khiến chúng tôi buồn hơn là một cơ hội xây dựng một dự án lớn cho Việt Nam đã bị bỏ lỡ.
Nó còn là một vết thương lòng. Mình thành công xin tài trợ nhiều nơi ở nước ngoài, nhưng bị cho “rớt đài” ngay tại nơi mình được sanh ra.
Đằng sau đề cương 30 trang đó là nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, những mối quan hệ hợp tác quốc tế, công sức của các đồng nghiệp và khát vọng đem những kiến thức, công nghệ mà chúng tôi học được ở nước ngoài về phục vụ quê hương.
Tất cả những tâm huyết đó cuối cùng không được đón nhận.
■ Lời thề và bài học
Sau kinh nghiệm FIRST, chúng tôi đi đến một lời thề: sẽ không xin tài trợ từ các cơ quan trung ương nữa.
Và cho đến nay, chúng tôi vẫn giữ lời thề đó.
Nhìn lại sau 10 năm, tôi nghĩ câu chuyện này đặt ra một vấn đề lớn hơn số phận của một đề án nghiên cứu.
Một hệ thống tài trợ khoa học không thể được đánh giá chỉ qua số tiền đã cấp, mà còn phải qua chất lượng bình duyệt, tính minh bạch của quyết định và khả năng nhận diện những ý tưởng có tiềm năng.
Người bình duyệt có quyền không đồng ý, có quyền phê phán, và có quyền đề nghị bác bỏ một đề án. Nhưng quyền đó phải đi đôi với trách nhiệm chuyên môn. Một lời phê bình có giá trị phải dựa trên bằng chứng, lập luận và sự am hiểu lĩnh vực nghiên cứu, chứ không thể chỉ là những lời phán xét chung chung.
Bốn chuyên gia khen và một chuyên gia chê không có nghĩa là bốn người đúng và một người sai. Trong khoa học, đôi khi một người nhìn ra sai sót mà nhiều người khác bỏ qua. Nhưng nếu một ý kiến thiểu số có ảnh hưởng quyết định đến kết quả, thì ý kiến đó càng phải được giải trình rõ ràng và thuyết phục.
Tôi cũng nghĩ rằng một quốc gia muốn phát triển khoa học phải biết tận dụng nguồn lực tri thức của người Việt ở nước ngoài. Họ mang về không chỉ kiến thức và công nghệ, mà còn những mạng lưới hợp tác, kinh nghiệm tổ chức nghiên cứu và cơ hội đào tạo thế hệ kế tiếp.
Không nhứt thiết phải tài trợ cho mọi đề án. Nhưng cần có một cơ chế đánh giá công bằng, minh bạch và đủ năng lực chuyên môn để không bỏ lỡ những đề án có giá trị.
Mười năm đã qua. Điều tôi tiếc nhứt không phải là chúng tôi không nhận được tiền từ FIRST. Điều đáng tiếc hơn là một cơ hội hợp tác khoa học đã không thành hiện thực như chúng tôi từng kì vọng.
Một đề án có thể bị bác bỏ. Nhưng cách bác bỏ một đề án nói lên rất nhiều điều về văn hóa khoa học của một quốc gia.
Nó củng cố thêm cho câu nói muôn đời về những chương trình với những mục tiêu huy hoàng rằng: “Thấy vậy mà không phải vậy”.
Bởi vì điều nguy hiểm đối với khoa học không phải là thiếu những ý tưởng mới, mà là một cơ chế đánh giá không đủ năng lực để nhận ra giá trị của chúng.
Nguyễn Tuấn
17 ngàn tỉ là khoảng 680 triệu USD chớ có ít đâu. Tại sao không có một hội đồng đánh giá toàn bộ qui trình tuyển chọn? Với đà này sẽ còn phí tiền nữa.
Võ Đức Chiêu
Có lẽ họ quen với việc người nước ngoài là phải mang tiền về tài trợ nghiên cứu
Chứ không phải về xin
Võ Đức Chiêu Cái chương trình FIRST là do nước ngoài tài trợ với mục tiêu tham vọng lắm. Rồi cuối cùng thì cũng chẳng đi tới đâu.
Giờ nghĩ lại tôi thấy mình quá ngây thơ.
Lê Đình Phong
Vấn đề ra sản phẩm trên thị trường nó còn phụ thuộc nhiều yếu tổ khác. Đặc biệt nền tảng phục vụ cho sản xuất của chúng ta có mạnh đâu, chưa nói là quá yếu.
Còn chuyện chi tiền cho nghiên cứu khoa học, nó không hiệu quả, nguyên nhân phần nhiều là chỗ các hội đồng xét duyệt đề tài, hội đồng nghiệm thu và chính những chính sách của các vị ngồi trên cao chứ có gì ngạc nhiên mà tâm tư, thắc mắc
P/s: mà để nhận được tài trợ nghiên cứu của NN thì cũng ba chấm, cũng mafia lắm chứ chẳng chơi.
Nguyễn Tuấn
Lê Đình Phong Đó, tôi ngây thơ là ở chỗ đó.
Lê Đình Phong
Nguyễn Tuấn dạ anh. Em cũng ngạc nhiên là nhóm anh mà lại bị NN từ chối tài trợ
Những phản biện mang tính chủ quan, duy ý chí, thiếu tầm nhìn vậy mà cũng được làm căn cứ chính để reject. Thua.
Nguyễn Tuấn
Lê Đình Phong Bởi vậy mới có lời thề.
"Tôi thề tôi chẳng yêu ai, vì người ta cứ phụ tôi hoài /
Bây giờ tôi chẳng còn tin, trong nhân gian có kẻ chung tình"
Võ Phạm Trọng Nhân
by author
Lê Đình Phong làm gì ba chấm, ba chấm là đề tài cấp tỉnh. Đề tài cấp TW phải 6 chấm mới qua cửa được. Kkkk
Đỗ Hoàng Dũng
Người ta đi bằng hai chân, nhưng khoa học phải đứng trên hai chân: bằng chứng đáng tin cậy và trách nhiệm với xã hội.
Xuan Bui Van
·
# ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH: ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN CƠ CHẾ ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI HÓA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ BẰNG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CHỨNG KHOÁN HÓA TÀI SẢN TRÍ TUỆ
## 1. Mục tiêu cốt lõi
* Giải phóng áp lực tâm lý "sợ sai, ngại rủi ro" của cán bộ quản lý nhà nước thông qua việc rút bớt quyền quyết định chủ quan và giao quyền cho lực lượng thị trường.
* Tối ưu hóa hiệu quả dòng vốn ngân sách (17.000 tỷ đồng), chuyển hóa các đề tài nghiên cứu từ "nghiệm thu trên giấy" thành tài sản kinh tế thực tế.
* Bảo vệ bí mật công nghệ của doanh nghiệp, đồng thời xã hội hóa nguồn vốn đầu tư mạo hiểm cho khoa học công nghệ.
## 2. Khung cơ chế vận hành (4 Trụ cột then chốt)
### Trụ cột 1: Đấu thầu sòng phẳng, không phân biệt chủ sở hữu
* **Thay đổi cơ chế:** Chuyển từ cơ chế "giao nhiệm vụ hành chính" cho các viện/trường công lập sang cơ chế **đấu thầu công khai** cho mọi thành phần kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, startup, doanh nghiệp nhà nước, spin-off...).
* **Phương thức đặt hàng:** Nhà nước chỉ đưa ra "đầu bài" (bài toán thực tiễn của nền kinh tế/địa phương). Doanh nghiệp tự đề xuất giải pháp kỹ thuật và phương án thương mại hóa.
* **Cơ chế cấp vốn:** Tài trợ thẳng (grant) đóng vai trò vốn mồi, gắn liền với quyền sở hữu và tỷ lệ chia sẻ lợi nhuận bản quyền tương ứng cho ngân sách nhà nước khi công nghệ sinh lời.
### Trụ cột 2: Lượng hóa hàm lượng khoa học thành giá trị tiền tệ
* **Xóa bỏ chấm điểm cảm tính:** Hội đồng độc lập (chuyên gia công nghệ, tài chính, kiểm toán) không đánh giá khen chê theo lý thuyết mà thực hiện nhiệm vụ **kiểm toán tài sản trí tuệ**.
* **Công thức định giá:** Lượng hóa hàm lượng khoa học đột phá bằng tiền dựa trên: Chi phí tái tạo công nghệ, Phí bản quyền tương đương quốc tế, và Dòng tiền chiết khấu từ lợi thế công nghệ mang lại (số tiền tiết kiệm được hoặc giá trị thặng dư tạo ra cho sản phẩm).
### Trụ cột 3: Xếp hạng năng lực doanh nghiệp định kỳ
* Thiết lập bảng xếp hạng doanh nghiệp công nghệ dựa trên tổng giá trị tài sản tri thức đã được lượng hóa bằng tiền.
* **Phân cấp quản trị rủi ro:** Chỉ các doanh nghiệp đạt thứ hạng cao (Hạng A, B) mới được tham gia đấu thầu các công trình lớn, cốt lõi hoặc các dự án có độ rủi ro hệ thống cao. Doanh nghiệp mới sẽ tích lũy điểm số và thăng hạng từ các dự án nhỏ.
### Trụ cột 4: Chứng khoán hóa và đưa tài sản trí tuệ lên sàn giao dịch
* **Thành lập sàn giao dịch vốn công nghệ:** Cho phép đóng gói tài sản trí tuệ đã được định giá thành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ công nghệ và niêm yết công khai trên một phân khúc sàn giao dịch chuyên biệt.
* **Xã hội hóa rủi ro:** Giá trị công nghệ do hàng ngàn nhà đầu tư và thị trường tự động định giá, giao dịch và phân tán rủi ro. Doanh nghiệp dễ dàng phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn xã hội đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra sản xuất hàng loạt.
## 3. Nguyên tắc quản lý: Minh bạch tài chính, Bảo mật công nghệ
* **Tuyệt đối không can thiệp sâu vào bí mật công nghệ:** Không bắt buộc doanh nghiệp công khai nhật ký thí nghiệm, thuật toán hay công thức cốt lõi để tránh bị đối thủ sao chép, phá vỡ lợi thế tiên phong.
* **Quản lý bằng "Hộp đen" tài chính:** Doanh nghiệp niêm yết vận hành theo đúng luật chơi tài chính toàn cầu. Kiểm soát tính trung thực và năng lực bằng **Báo cáo tài chính minh bạch được kiểm toán độc lập** (xác thực dòng tiền R&D vào - ra) và kết quả đầu ra thực tế (bằng sáng chế, hợp đồng thương mại, doanh thu thực tế).
Hoangquoctuan Ngo
Em lại thấy là may mắn là nhóm không nhận được tài trợ Thầy ạ. Thầy và nhóm chắc chưa thể biết việc giải ngân và giải trình chi phí ngân sách nhà nước nó nhiêu khê biết nhường nào. Rồi kiểm tra thanh tra kết luận sai phạm cũng rất dễ bị vướng
Không có nhận xét nào