Hoàng Trường
October 23, 2026
“…Muốn Lào hay Campuchia giảm phụ thuộc vào một đối tác mà không đưa ra con đường hợp tác khác là lời khuyên không có sức nặng.
Đây không chỉ là chính sách viện trợ hay láng giềng hữu nghị. Kết nối kinh tế tạo ra quyền tự chủ. Một quốc gia có nhiều tuyến thương mại, nhiều nguồn vốn, nhiều đối tác kỹ thuật và nhiều đầu ra cho hàng hóa sẽ ít bị buộc phải chấp nhận một lựa chọn duy nhất. Việt Nam cần làm cho hợp tác với mình trở thành một phần của tương lai phát triển mà người dân Lào và Campuchia có thể nhận ra lợi ích”.

Hình minh họa: AI
Từ các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương (CSP), qua ASEAN và các khuôn khổ FOIP, đến những nhóm hợp tác linh hoạt theo từng vấn đề — Việt Nam cần một mạng lưới mở, trong đó mỗi nước cùng có lợi khi khu vực ổn định và minh bạch.
Từ cảnh báo đến lựa chọn chiến lược
Ban Keun và Ream là lời cảnh báo buộc Hà Nội không thể không ra tay: chủ động định hình lại môi trường an ninh ở hai sườn bằng ngoại giao, hợp tác và năng lực của chính mình.
Tại Ban Keun, Trung Quốc và Lào đã đưa vào hoạt động một trung tâm hỗ trợ, huấn luyện chung cùng học viện hàng không. Bắc Kinh nói cơ sở này phục vụ huấn luyện phi công Lào và không nhằm vào nước thứ ba; nhưng thông tin về nhân sự, trang bị và cách vận hành lâu dài vẫn chưa được công bố đầy đủ [1][2]. Ở Ream, căn cứ hải quân được nâng cấp với sự hỗ trợ của Trung Quốc và nay có trung tâm huấn luyện, hỗ trợ chung Trung Quốc–Campuchia [1][3].
Những dữ kiện ấy chưa chứng minh đã hình thành một thế gọng kìm quân sự hoàn chỉnh. Nhưng chúng đủ để đặt ra câu hỏi nghiêm túc về quyền tiếp cận, hậu cần và ảnh hưởng chiến lược đang mở rộng. Không cần đợi đến khi mọi mục đích được công bố, mọi năng lực được hoàn thiện, Việt Nam mới bắt đầu xây dựng phương án. Khoảng mờ hiện nay chính là lý do phải hành động sớm.
Không thể trả lời bằng sự yên tâm rằng các nước láng giềng có quyền quyết định chính sách của họ. Đúng, họ có quyền ấy. Nhưng Việt Nam cũng có trách nhiệm nhìn thẳng vào hệ quả chiến lược của những hạ tầng và quan hệ quân sự đang hình thành quanh mình. Nếu chỉ nhắc lại nguyên tắc mà không xây năng lực và quan hệ cụ thể, tự chủ chiến lược chỉ là khẩu hiệu.
Giờ là lúc Việt Nam phải chuyển chính sách “không liên minh” thành một “mạng lưới hợp tác” đủ dày để bảo vệ an ninh quốc gia. Không liên minh không có nghĩa là không liên kết.
Nội lực là tầng móng
Mọi mạng lưới đối ngoại đều yếu nếu bên trong thiếu năng lực. Việt Nam cần đầu tư bền bỉ vào khả năng nhận biết tình hình, bảo vệ hạ tầng thiết yếu, an ninh mạng, hậu cần, công nghiệp quốc phòng, chấp pháp trên biển và phối hợp giữa các cơ quan dân sự với quân sự. Đây không phải cuộc chạy đua để phô trương sức mạnh. Đó là những điều kiện tối thiểu để Việt Nam có thể tự đánh giá rủi ro, xử lý sự cố và tham gia hợp tác với tư thế chủ động.
“Bốn không” cần được đọc cùng với phần chủ động trong chính sách phòng thủ là lẽ đương nhiên. Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ quốc phòng với các nước, tùy theo điều kiện và lợi ích chung, đóng góp vào hòa bình và ổn định [4]. Nếu chỉ nhắc đến giới hạn mà bỏ qua phần hợp tác, ta tự làm nghèo chính sách của mình.
Tự chủ cũng không phải đứng ngoài mọi mạng lưới. Tự chủ là có đủ năng lực và quan hệ để không bị một mạng lưới duy nhất chi phối.
Đưa các quan hệ song phương vượt thoát tầng nghi thức
Việt Nam đã xây dựng quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” (CSP) với nhiều nước có năng lực và ảnh hưởng đáng kể, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ [5]. Nhưng những danh xưng ấy chỉ có ý nghĩa khi tạo ra hiệu quả thực tế. Nếu các cuộc gặp cấp cao không dẫn tới cơ chế tham vấn thường xuyên, dự án hợp tác cụ thể và năng lực được bổ sung, mạng lưới đối tác sẽ chỉ đẹp trên giấy.
Hà Nội cần đề xuất với từng đối tác một chương trình hành động có thể kiểm đếm: trao đổi thông tin hàng hải; nâng cao năng lực cảnh sát biển và cứu nạn; đào tạo về bảo vệ hạ tầng số; hợp tác an ninh mạng; hỗ trợ công nghiệp quốc phòng và bảo dưỡng; đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, khoáng sản và công nghệ.
Mỗi đối tác có thế mạnh riêng. Việt Nam không cần đòi hỏi mọi nước làm cùng một việc, càng không cần biến các quan hệ ấy thành cam kết phòng thủ mà họ chưa đưa ra. Điều cần là nhiều năng lực bổ sung cho nhau, để khi một kênh gặp giới hạn, những kênh khác vẫn hoạt động.
Quan hệ song phương cũng có thể tạo đòn bẩy cho ngoại giao đa phương. Khi Việt Nam và một số đối tác đã có chung quy trình trao đổi thông tin hay ứng phó khẩn cấp, họ có thể đưa kinh nghiệm đó vào các diễn đàn rộng hơn. Những bước đi thiết thực ấy giúp tăng khả năng dự báo, giảm hiểu lầm và khiến các thay đổi về hiện diện quân sự khó bị che khuất trong vùng mờ.
ASEAN giữ vai trò trung tâm, FOIP mở không gian hợp tác
Hai sườn Tây và Tây Nam của Việt Nam nằm trong một không gian mà Lào, Campuchia và các nước ASEAN đều có lợi ích. Vì thế, ASEAN không thể chỉ được nhắc đến như một thủ tục ngoại giao. Việt Nam cần vận động để các cơ chế ASEAN trở thành nơi bàn thực chất về minh bạch, thông báo hoạt động, đường dây liên lạc khi có sự cố, cứu trợ thảm họa, an ninh biển và bảo vệ các tuyến kết nối.
“AOIP” – “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương” – đã nêu những nguyên tắc phù hợp: bao trùm, tôn trọng chủ quyền, kết nối, hợp tác biển và tuân thủ luật pháp quốc tế [6]. “FOIP” – “Không gian Indo-Pacific tự do và rộng mở” do Nhật Bản và một số đối tác có những điểm gặp với AOIP. Việc cần làm là nối các sáng kiến ấy với những chương trình cụ thể do ASEAN dẫn dắt, thay vì để FOIP và AOIP đứng cạnh nhau như hai khẩu hiệu. Nhật Bản đã nêu việc thúc đẩy FOIP qua nhiều cơ chế khu vực, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN và những ưu tiên hợp tác trong AOIP [7].
Việt Nam có thể đề xuất những quy tắc tự nguyện, không phân biệt đối xử: thông báo trước một số hoạt động huấn luyện quy mô lớn; chia sẻ thông tin về sự cố trên biển; thiết lập đầu mối liên lạc giữa lực lượng chấp pháp; cùng đánh giá rủi ro của các dự án hạ tầng có tác động xuyên biên giới. Cần tạo ra thói quen minh bạch mà mọi nước đều có thể tham gia, kể cả khi họ không cùng quan điểm về cạnh tranh nước lớn.
“Đa phương linh hoạt”: hợp tác theo việc, không ép chọn phe
ASEAN thường cần thời gian để đi đến đồng thuận, vì các diễn đàn lớn cũng thường chỉ tạo được mẫu số chung. Việt Nam vì thế cần chủ động hình thành những nhóm hợp tác mở theo từng vấn đề, với sự tham gia của các nước có năng lực và lợi ích phù hợp. Nhóm này có thể tập trung vào cứu hộ và ứng phó thiên tai; nhóm khác chia sẻ thông tin hàng hải; nhóm khác nữa cùng bảo vệ chuỗi cung ứng, cáp viễn thông hay hạ tầng năng lượng.
Đó là cách tập hợp lực lượng phù hợp với một nước không muốn đứng trong liên minh. Các nhóm không cần hiệp ước phòng thủ hay một bộ chỉ huy thường trực. Họ cần mục tiêu rõ, dự án đo được, cơ chế mở và lợi ích thiết thực. Ai tham gia lĩnh vực nào thì làm lĩnh vực ấy; kết quả tốt có thể mở rộng sang đối tác khác và đưa vào khuôn khổ ASEAN.
Sự linh hoạt còn giúp Việt Nam tránh phụ thuộc vào một cường quốc bảo trợ. Mỗi sáng kiến có thể có đối tác khác nhau: Nhật Bản về kết nối và công nghệ; Australia về đào tạo và an ninh biển; Ấn Độ về năng lực quốc phòng và hàng hải; Hoa Kỳ về công nghệ, dữ liệu và cứu trợ; Hàn Quốc về công nghiệp và hạ tầng. Đây không phải một đội hình cố định. Đó là mạng lưới các quan hệ chồng lấn, trong đó không nước nào nắm độc quyền con đường hợp tác của Việt Nam.
Muốn giữ láng giềng, phải đem lại lựa chọn thực chất
Lào và Campuchia không phải là những quân cờ để Việt Nam hay bất kỳ nước nào nói thay. Cách tiếp cận xem họ chỉ như “con chốt” sẽ làm tổn thương chính quan hệ mà Hà Nội cần củng cố. Tôn trọng quyền tự quyết của hai nước đi cùng với việc Việt Nam phải nhìn rõ ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc đang ngày càng tăng lên.
Việt Nam cần cạnh tranh bằng những điều láng giềng có thể nhìn thấy và sử dụng: cửa khẩu thông thoáng hơn, logistics hiệu quả hơn, thương mại biên giới công bằng hơn, hợp tác năng lượng có độ tin cậy cao hơn, học bổng và đào tạo nghề, y tế xuyên biên giới, quản lý nguồn nước Mekong dựa trên dữ liệu và lợi ích cùng chia sẻ.
Muốn Lào hay Campuchia giảm phụ thuộc vào một đối tác mà không đưa ra con đường hợp tác khác là lời khuyên không có sức nặng.
Đây không chỉ là chính sách viện trợ hay láng giềng hữu nghị. Kết nối kinh tế tạo ra quyền tự chủ. Một quốc gia có nhiều tuyến thương mại, nhiều nguồn vốn, nhiều đối tác kỹ thuật và nhiều đầu ra cho hàng hóa sẽ ít bị buộc phải chấp nhận một lựa chọn duy nhất. Việt Nam cần làm cho hợp tác với mình trở thành một phần của tương lai phát triển mà người dân Lào và Campuchia có thể nhận ra lợi ích.
APEC 2027: đòn bẩy kinh tế cho một chiến lược rộng hơn
APEC không phải diễn đàn phòng thủ. Việt Nam đăng cai APEC 2027 tại Phú Quốc, và nên dùng cơ hội ấy để thúc đẩy các sáng kiến về chuỗi cung ứng bền vững, năng lượng, kinh tế số, an ninh hạ tầng và đầu tư chất lượng cao [8]. APEC có các nhóm công tác chuyên môn để chia sẻ kinh nghiệm và triển khai hoạt động xây dựng năng lực trong những lĩnh vực kinh tế cụ thể [9].
Giá trị của APEC nằm ở việc đặt Việt Nam vào trung tâm trao đổi giữa các nền kinh tế trong khu vực, trong đó có cả Trung Quốc. Diễn đàn này hẳn nhiên không thể là sân khấu chống Bắc Kinh; mà phải dùng nó để xây những quan hệ kinh tế giúp khu vực bớt dễ bị tổn thương trước sức ép và gián đoạn.
Lào và Campuchia không phải thành viên APEC, nên kết nối với hai nước phải được triển khai qua ASEAN, các cơ chế Mekong và hợp tác song phương [10]. Mỗi diễn đàn có đúng việc của nó; hiệu quả nằm ở chỗ biết nối chúng lại.
Tự chủ phải có hình hài
Ream và Ban Keun đặt ra câu hỏi về sự hiện diện và quyền tiếp cận trong tương lai. Câu trả lời của Việt Nam không thể chỉ là phản đối, cũng không thể là hy vọng rằng những lời trấn an sẽ tự giải quyết mọi lo ngại. Câu trả lời phải là một mạng lưới đủ dày: nội lực để nhận biết và ứng phó; đối tác song phương để bổ sung năng lực; ASEAN để tạo không gian chính danh; các nhóm linh hoạt để xử lý việc cụ thể; hợp tác kinh tế để các nước láng giềng có thêm lựa chọn.
Đích đến của mạng lưới ấy là giữ cho Việt Nam luôn có quyền tự quyết: không sức ép nào có thể buộc Hà Nội chỉ còn một lối đi. “Bốn không” chỉ có sức nặng khi được nâng đỡ bằng nhiều quan hệ, nhiều năng lực và nhiều phương án hợp tác. Việt Nam không cần gia nhập liên minh để bảo vệ quyền tự chủ; Việt Nam cần đủ bạn bè, nội lực và sáng kiến để tự quyết định con đường của mình.
Hoàng Trường
——————
Tham khảo:
[1] Reuters, “China carves new military presence in Southeast Asian neighbour,” 30/9/2026. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/china-carves-new-military-presence-southeast-asian-neighbour-2026-09-30/
[2] Associated Press, “Satellite imagery shows construction at China’s joint airfield in Laos,” 15/10/2026. https://apnews.com/article/laos-china-airfield-vietnam-taiwan-ban-keun-e887f6f53da184d916603e0e339bf7dd
[3] U.S. Department of Defense, Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2025, 23/12/2025. https://media.defense.gov/2025/Dec/23/2003849070/-1/-1/1/ANNUAL-REPORT-TO-CONGRESS-MILITARY-AND-SECURITY-DEVELOPMENTS-INVOLVING-THE-PEOPLES-REPUBLIC-OF-CHINA-2025.PDF
[4] Cổng Thông tin Chính phủ Việt Nam, Viet Nam National Defence White Paper 2019, 20/12/2019. https://en.baochinhphu.vn/viet-nam-national-defense-white-paper-2019-11136975.htm
[5] Cổng Thông tin Chính phủ Việt Nam, “Viet Nam’s 14 top-tier partnership frameworks,” 1/11/2025. https://en.baochinhphu.vn/infographics-viet-nams-14-top-tier-partnership-frameworks-11125103116132882.htm
[6] ASEAN, ASEAN Outlook on the Indo-Pacific. https://asean.org/speechandstatement/asean-outlook-on-the-indo-pacific/
[7] Ministry of Foreign Affairs of Japan, Diplomatic Bluebook 2023, “Regional and Inter-Regional Cooperation.” https://www.mofa.go.jp/policy/other/bluebook/2023/en_html/chapter2/c020207.html
[8] Government of Viet Nam, “Viet Nam prepares for APEC 2027 in Phu Quoc island.” https://en.baochinhphu.vn/apec-2027.html
[9] APEC, “How APEC Operates.” https://www.apec.org/who-we-are/how-apec-operates
[10] APEC, “Our Members.” https://www.apec.org/who-we-are/our-members
Không có nhận xét nào