Header Ads

  • Breaking News

    Lê Văn Duyệt

    Phần1

    Tác giả Cao Hải Để

    Vinhhuy Le/ Sưu tầm và phổ biến

    LÊ VĂN DUYỆT - P.1

    (Cao Hải Để soạn)

    TIỂU SỬ SOẠN GIẢ:

    Cao Hải Để (1895-1964): Hiệu là Hiệp Hòa, sanh ở xã Hiệp Hòa, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xứ nào đách biết). Ông tốt nghiệp Pétrus Ký (Saigon), ngôi trường danh tiếng nhứt Nam kỳ hồi đầu thế kỷ XX.

    Từ năm 1924, viết cho các báo Công ích Toàn thơ, Pháp-Việt nhất gia. Từ tháng 7-1926 làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nhựt Tân báo. Tháng 8-1926 thành lập và chủ nhiệm bán tuần san Pháp ngữ L’Ere nouvelle. Tháng 11-1926 tham gia hội nghị thành lập đảng Đông Dương Lao Động và đặt hai tờ báo này làm cơ quan ngôn luận của đảng, hoạt động đến 22-6-1929 thì bị giải thể. Ngày 25-6-1929 bị Pháp bắt giam, năm 1936 ra tù, tiếp tục hoạt động trong phong trào Dân chủ 1936-39. Tháng 6-1940 lại bị bắt và đày đi Bạc Liêu. Tháng 8-1945 trở về Mỹ Tho, tham gia Mặt trận Việt Minh kháng Pháp. Năm 1954 thì ly khai Việt cộng, lên Sài Gòn tiếp tục viết báo cho tới khi mất năm 1964.

    Trong số những trí thức tiêu biểu của Nam kỳ đầu thế kỷ XX, Cao Hải Để là trường hợp đáng chú ý. Ông hoạt động trên nhiều lĩnh vực: báo chí, triết học, giáo dục, khảo cứu xã hội - kinh tế và sáng tác văn học.

    Khoảng năm 1915, Cao Hải Để hai mươi tuổi đã bắt đầu xuất hiện trên văn đàn Quốc ngữ với các công trình phiên âm chữ Nôm và biên khảo như Thanh xà Bạch xà diễn nghĩa (J. Nguyễn Văn Viết xuất bản 1915), Sãi vãi (phiên âm truyện Nôm của Nguyễn Cư Trinh, J. Nguyễn Văn Viết xuất bản 1923), truyện ký lịch sử “Lê Văn Duyệt” (J. Nguyễn Văn Viết xuất bản 1924) và tiểu thuyết lịch sử Ơn nước nợ nhà (Im. du Centrer xuất bản năm 1924), Triết học thường thức (A. Dupas xuất bản năm 1917) được xem là một trong những công trình giới thiệu triết học sớm nhứt ở Việt Nam. Đây là thời kỳ chữ Quốc ngữ phát triển mạnh mẽ và trở thành công cụ quan trọng trong việc hình thành đời sống văn hóa hiện đại ở Nam kỳ.

    Trong lịch sử báo chí Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, Cao Hải Để là một trong những cây viết tiêu biểu của Nam kỳ. Ông không chỉ viết báo mà còn dùng nó làm công cụ khai hóa xã hội, xây dựng ý thức dân tộc. Các bài viết của ông đề cập đủ lãnh vực, từ giáo dục, kinh tế, nông nghiệp tới đạo đức, thanh niên và các vấn đề xã hội. Trên Nông cổ mín đàm, ông đăng nhiều bài xã luận như: Tuyển cử, Bất năng tất học, Dùng chữ Quốc ngữ, Nông nghiệp cải lương, Giáo dục bình luận, Việt Nam tấn bộ luận, Đoàn nữ lưu ta đối với cuộc tranh thương, Danh dự và quê hương, Thương chiến luận, Nhặt tóm ít điều chú trọng của các nhà giáo dục sơ sót, Việt Nam thanh niên tấn bộ, Sự đoàn thể, Chấn hưng nông nghiệp, Trong cuộc buôn bán ta nên noi sách người Nhật, Luận về thiệt nghiệp, Thương trường ta, Kỹ nghệ nước nhà đối với trường thương chiến… cho thấy tinh thần cải cách xã hội và ý thức khuyến học, khuyến công, khuyến thương của ông.

    Nghe nói thị xã Cai Lậy quê ông có con đường mang tên… Cao Hải Đế (dấu sắc). Cũng thường tình thôi, chẳng qua người ta tưởng lộn ông là vị vua hoặc tổ tiên quân lộn giống nào đó thôi mà!

    Dưới đây là toàn văn cuốn truyện ký “Lê Văn Duyệt” do Cao Hải Để soạn. Đọc cuốn nầy chợt rưng rưng nhớ cái hồi mình lăn lộn đất Sài Gòn, có khi phải vô Lăng Ông giải xăm kiếm cơm. Nhờ Ông phù hộ, cũng đủ nhét miệng và mua sách vở…

    Lạy Ông linh hiển rộng lượng, đừng bẻ cổ vặn họng mấy đứa lộng ngôn!

    _________

    LÊ-VĂN-DUYỆT

    - Cao Hải Để soạn

    TỰA

    Tả-quân Lê-công sanh nhằm đời ly-loạn, xuất-thân hàn-vi mà có chí lớn, thiệt là người anh-tài ở Nam-kỳ trong thời ấy vậy.

    Người đã đem thân dâng cho đức Thế-tổ Cao-hoàng-đế, chung lo khôi phục san-hà. Người đã đem gương trung nghĩa làm bia cho đời, biết rõ ơn nước nợ nhà, phận làm tôi dân trong nước phải hết lòng lo cho nước.

    Lê-tả-quân là người nghĩa dõng, một lòng khắn-khắn lo vun-đắp nền xã-tắc Đại Nam, kể xiết bao là công-lao, trải biết bao là cay đắng. Vì thế mà danh bia nơi « chẳng mục », ngàn năm đời nhắc-nhở, hương-khói phụng-thờ. Mảnh gan trung-liệt của tôi trung-dõng dầu đã vùi lấp vào đám bụi hồng, nhưng khí-phách tinh-hoa vẫn làu-làu không cũ.

    Đất nước nầy còn, thì dấu tích quý báu người trung-thần hởi còn rõi truyền hoài. Người đời sau nên chiêm-ngưỡng oai-linh người, sùng-bái chí-khí người, nhắc-nhở công-nghiệp người, vùa hương nắm lửa, khép-nép điện-tế người anh-dõng của nước ta.

    Vì người trung-cang nghĩa khí, vực nước phò vua, vì người đem thân bách-chiến, rưới máu hồng mà làm cho nước nhà ta trong buổi ấy đặng vẻ-vang rực-rỡ, trong xứ trị-an, ngoại-bang nép sợ, ta viết sự-tích người.

    Ước mong rằng: anh em người Nam ta, vì lòng trung-dõng của người mà sùng bái oai-linh người như một vị « thần-kỳ », ngỏ tỏ tấm thành với người trung-dõng của nước ta, đã làm cho dòng giống ta rỡ-ràng với các nước trong một thuở.

    Saigon, le 19 Mars 1924

    CAO-HẢI-ĐỂ kính đề

    In ra 5.000 cuốn, lấy 50 cuốn giấy láng để kiếng các nhà văn-sĩ và anh em, mỗi cuốn đều có đóng con dấu tên của soạn-giả.

    TIỂU DẪN

    Nhớ lại xuân rồi, thừa nhàn tôi về Thu-giang viếng thân. Sang chơi ở nhà một ông lão-thành ở làng Hòa-khánh. Ông năm nay 88 tuổi mà còn sức, khỏe người lắm. Nói năng cẩn-thận tinh-tế, không hề lầm-lạc. Nguyên làng Hòa-khánh nầy là nơi nhau-rún của Lê-tả-quân tướng-công, Bạch-hổ-tinh phát hiện tại đó. Nay còn sót lại một hai ông phụ-lão, còn nhớ nhiều ít lịch-sử người. Tôi rất may đặng hầu-chuyện ông lão này, hỏi qua lịch-sử Lê-công, ghi vào sổ nhỏ, nay lần lượt in hết ra cho đồng-bào ta đọc, thoảng còn chỗ sai sót, vị nào biết rõ hơn xin ra ơn bổ-khuyết.

    Vả người Saigon-Cholon-Giadinh, khi xảy ra việc chi bất-bình uất-ức, không thể cãi-cọ, thì hay thách nhau “vô Lăng Ông Bà-Chiểu mà thề”. Mà lăng ông nào đây? Ấy là lăng Tả-quân Lê-văn-Duyệt tướng công đó. Khách hành-nhân dầu nguời Nam, dầu ngoại-quốc, khi đi ngang qua biết đó là mồ phần ngài, thì ai lại không lạnh mình nhởm tóc, dường như oai-linh người công-thần nhà Nguyễn vẫn vấn-vít ở nơi gần đó vậy. Hỡi ôi! Thiên-cổ chiến-công, nhứt thời anh-tuấn; oai-linh chói rỡ, chí khí lẫy lừng, phò Nguyễn diệt Tây-sơn, công cao muôn hộc, mà ngày nay còn lại cái chi? Kìa một nắm mồ rêu phong đá nẻ, bia tên nghĩa-dõng, tụng đức anh-hùng. Dấu chiến-tràng thỏ lặn ác tà; trường chinh-chiến xưa qua nay lại! Chỉ để danh thơm ngàn thu chạm-khắc. Sánh với Quan-công đời Hớn, Nhạc-Phi đời Tống, thì công-lao nghĩa khí người lấn xấp hai ông kia. Sao người Nam ta Ịại không tượng cốt, họa dung người mà thờ, mà lại thờ Quan-công, Nhạc-Phi; hai ông ấy có công-phu chi với nước ta?

    Những lời bằng-điếu, những tiếng tụng công, biết sao cho phỉ với cái công-lao kéo ngược mặt trời, vá lành trái đất? Người anh-dõng như Lê-công, danh thơm ngàn năm bia thanh-sử, muôn thuở hởi còn ghi, ngày nay tuy thời-thế đổi thay, nhưng lòng sùng-bái của chúng-dân vẫn không phai không lợt. Vậy quốc-dân ta nên duợt kỷ tiểu-sử của người, và hết lòng yêu mến tôn-trọng cái lòng trung-cang nghĩa khí của người phò vua vực nước, đem mình vào nơi tên đạn, xem thân nhẹ như mảy lông, trọng tiết nặng dường non núi.

    Trường-trần rộn-rực, máy tạo đổi xây, cuộc đắc-thất hưng-vong là lẽ thường xưa nay, người thức thời-vụ chớ coi là lạ. Cho hay đời nào cũng có người trung cang nghĩa dõng, đời nào cũng có dị-sĩ vĩ-nhơn. Những tay cứu nước vực nhà, lúc nào lại thiếu. Nay nhơn phụng-lục tiểu-sử Lê-công, một tấm lòng thành thương cũ mến xưa, nấu nung đòi-đoạn. Trọng vì công-nghiệp người giúp đức Thế-tổ Cao-hoàng-đế bình phục cả tam-kỳ, công lao giải-nhửt, võ-công không hai. Tiếc vì phần đông người đương thời và hậu-lai, hiểu biết sự tích người rất sâm-sai, thật đáng buồn cho công lao người phải chôn lấp. Công-cao vọng-trọng thật đáng kỷ-niệm muôn đời!

    ĐOẠN THỨ I

    Rốt đời nhà Lê, cõi Bắc loạn lạc chẳng an, vì bởi vua Lê yếu-ớt, cả thảy quyền bính chánh-trị đều ở tay chúa Trịnh, vua chỉ ngồi cho có vị, chớ không thi-thố đặng một điều chi. Chúa-Trịnh thuở ấy oai giãy trong ngoài, quyền rúng cả nước, ví chẳng khác Đổng-Trác đời Hớn ép vầy Hiến-đế. Vì vậy mà lòng dân không phục, giặc chòm giặc khóm nổi lên, tư bề rối loạn không yên, trăm họ nằm gai nếm mật.

    Hùng cứ cõi Bắc lòng tham chưa phỉ, chúa Trịnh còn mong đánh lấy Trung-kỳ và bình-định cõi Nam, đặng nhứt-thống thiên-hạ; nhưng hai xứ Trung-Nam là phần của chúa Nguyễn, lúc ấy đóng đô tại Phú-xuân-đài (Huế). Vì thế hai bên phải giao chiến nhau, quyết phân thắng phụ.

    Thừa dịp hai chúa Nguyễn và Trịnh đánh nhau, quân Tây-sơn dấy lên, mong lấy nước Annam. Thương thay cho nước Nam trong thuở ấy, là vật của Nguyễn, Trịnh và Tây-sơn giằng xé nhau, gặp lúc ly-loạn, dân chúng đói khát, trộm cướp khuấy nhiễu rất nên khổ hại.

    Vì tranh giành nhau, làm cho xứ phải đồ-khổ, tai nạn, nhưng lại giục cho cuộc chinh-phục thái-bình xứ Nam-kỳ nầy rất nên mau lẹ. Bởi chưng buổi ấy có nhiều nhà ở Bắc và Trung-kỳ, muốn tránh xa giặc-giã cướp giựt, nên đem cả gia-quyến vào ở Nam-kỳ mà làm ăn, vì trong nầy đất địa phì nhiêu, khí-hậu lại ôn-hòa.

    Bởi có tích ấy, mới nảy sanh tiểu-sử Lê-công, và gia-quyến ngài vào Nam cũng trong buổi đó.

    Trong cơn nước Nam bị loạn ly vì giặc-giã, tại huyện Chương-đài, tỉnh Quảng-ngãi, có ông Lê -văn-Hiếu bỏ xứ đem gia-quyến vào Nam-kỳ, ở gần vàm sông Tòa-lọt, làng Hòa-khánh, hạt Định-tường (Mytho). Ông vốn góa bụa, vì lúc vào đó thì có một mình ông, với con trai là ông Lê-văn-Thoại và nàng dâu của ông. Chẳng bao lâu hai ông bà Lê-văn-Thoại sanh đặng hai trai là Lê-văn-Duyệt (1760) và Lê-văn-Phong.

    Gia-quyến họ Lê lúc đó nghèo khổ lắm, làm mướn mà ăn nhưng cũng không đủ mà cung-cấp; sự bần khổ khó mà tả đặng.

    Lúc ông Lê-văn-Duyệt tuổi vừa lên 9, trong xứ lại nổi lên chứng bịnh thiên-thời dữ tợn lắm, ông Lê-văn-Hiếu phải bịnh thiên-thời mà mất.

    Sau khi an táng cha mình tại gần vàm Tòa-lọt cách kỹ-lưỡng rồi, ông Lê-văn-Thoại bèn bỏ chỗ chẳng may đó, đi tìm nơi kiết-địa mà ở. Người xuống ở gần Rạch-gầm (Kim-sơn), nay là làng Long-hưng.

    Đến ở đó coi mòi thạnh phát, chẳng bao lâu gặp năm trúng mùa, trong nhà ông có dư dã ít nhiều. Chừng dó ông mới tính tới việc học cho các con là Lê-văn-Duyệt và Lê-văn-Phong. Nhưng ông Lê-văn-Duyệt cứ một điều luốc-lác, trốn học luôn luôn.

    Đọc đến đây, liệt vị chớ có tưởng là người biếng nhác, hay là vì tánh người không hiệp-quần, nhưng bởi có cớ nầy làm cho người phải lánh xa các bạn đồng-niên. Vì từ bé người mang tật kín, dương-cụ của người không có, nên thường bị bạn tác đeo theo chộ người, nên người không chịu đi học. Tối ngày người cứ lân cận với thú vật. Lúc thì đánh bẫy chim, khi thì bắt cá dưới bào.

    Có một nghề nầy thích chí người nhứt, là nghề đá gà. Người rất tinh chuyên bên nghề đó, cho đến đổi các chủ gà nhiều khi cậy người cáp giùm, quả thiệt bá chiến bá thắng, ghe phen các chủ gà đá gà ăn, chia bớt tiền mà cho người đặng thưởng công.

    Tuổi ấu-thơ của Lê-công như vậy thật không chi là kỳ-dị, chẳng xa với thường-nhơn là bao nhiêu. Song có dịp may sau đây, xui cho tôi hiền chúa thánh gặp nhau rất may, cho hay: « Minh-quân lương-tể tao phùng dị » lời ấy thiệt chẳng lầm. 

    ĐOẠN THỨ II: LÊ-CÔNG VĂN-DUYỆT GẶP CHÚA NGUYỄN-ÁNH.

    Trong hai năm (17(81-1782) chống cự với binh Tây-sơn, đức Nguyễn-Ánh phải bại binh và bị quân Tây-sơn truy-tầm cách bức-ngặt lắm. Ngài nếm trải muôn ngàn cay đắng, lặn suối trèo non, nhịn đói mặc rách giả-dạng dân thường, mới tránh tay quân Tây-sơn bắt buộc. Vì quân Tây-sơn biết ngài là tự-vị dòng Nguyễn, lại ngài là tay đối-địch đáng lo, e có ngày ngài khôi phục cơ-đồ, thì bao nhiêu công-phu đã hoài ra đều phải hưu-hủy.

    Quân Tây-sơn nhứt định phải tìm bắt cho đặng mà giết như thể Mục-vương và Huệ-tôn, cho dứt rồi hậu hoạn, vì sợ ngài tái cử mà phải lo về sau.

    Đức Nguyễn-Ánh lúc ấy trốn với ít vị trung thần tùng-vong, như Đỗ-thanh-Nhơn, Lê-văn-Chước Huỳnh-Đức và Lê-văn-Chất, vân vân (mấy ông nầy ngày sau đều là danh-tướng, nhưng hưởng-thọ ân-sủng hoàng-gia rất ít) trốn lánh trong chỗ khuất-tịch, kiếm thế chiêu-mộ binh lương, chờ khi tái cử.

    Ngày kia, vua tôi đi suốt mấy đêm ngày nhịn đói thôi la-lết, vào một cái nhà, phong quang sạch-sẽ lắm, vòng ngoài thì có trồng tre rào bích tư bề.

    Gặp chỗ khuất tịch, thích với sở nguyện một người trốn tránh, nên chi đức Nguyễn-Ánh vào nhà xin tá-túc.

    Ông Lê-văn-Thoại và bà vợ, theo thói người quê-mùa sằn-dã, tấm lòng từ-thiện háo-nghĩa là thường-lề, rất sẵn lòng tiếp khách lạ, lo sắp đặt chỗ cho khách nghỉ ngơi và lo chạy bữa ăn đãi khách.

    Bà Lê-văn-Thoại sốt sắng lo nấu cơm, vợ chồng xúm lại nấu nướng cho mau mà đãi khách. Giây phút cơm chín dọn lên, vua tôi vầy lại ăn một bữa rất ngon, vì đã mấy hôm bụng trống, nên dầu không cao-lương mỹ-vị cũng không sao!

    Dùng cơm rồi, đức Nguyễn-Ánh lần lần có ý yêu mến nhà ông Lê-văn-Thoại, nên chi ngài mới hỏi phăng tông-chi tộc-phái, gia-quyến đặng mấy người, bề thế ra sao, và bề dạy-dỗ trẻ con dường nào?

    Ông Lê-văn-Thoại nghe đức Nguyễn-Ánh hỏi vậy, liền đem hết những việc gia-đình mà thuật ngay cho ngài rõ. Kể đến đoạn các con, thì ông tỏ dấu âu-sầu về tánh-tình của con trưởng nam ông là Lê-văn-Duyệt. Ông nói rằng: “Trẻ ấy không ra gì hết. Vì nó không chuyên theo việc học hành, không ưa nghiệp nông-bô, mà cũng chẳng chịu làm chi cả thảy. Tuổi đã lớn mà nó biếng-nhát thái quá, ngày tối cứ theo trâu ngoài đồng, trèo cây trèo cối, quần-áo rách tả-tơi!”

    Chuyện vãn lại qua, phút chút bóng hồng chen lặn, tiếng chuông chùa cận xóm sãi công-phu, thì Lê-văn-Duyệt mới về nhà, mình mẩy lấm lem lấm luốc. Vừa đến cửa, thấy nhà có khách bèn tháo lui, ra cửa bếp mà vô nhà. 

    Tắm rửa thay đổi y-phục rồi, mới ra nhà trước mà chào khách.

    Đức Nguyễn-Ánh nhắm xem bộ tướng Lê-văn-Duyệt hồi lâu, hỏi việc này việc nọ, thì ngài biết rằng chẳng phải bực tầm-thường, theo lời ông Lê-văn-Thoại nói vậy, bèn xin với ông, cho Lê-văn-Duyệt theo cộng-sự với ngài. Chừng ấy ngài mới nói cho gia-quyến ông Lê-văn-Thoại biết ngài là ai và công cuộc ngài tính làm vậy vậy.

    Vậy thì từ đây, ông Lê-văn-Duyệt dự vào lo chung cho cuộc phục-hưng cơ-đồ nhà Nguyễn. Vì cái tật kín của người, mà Lê-văn-Duyệt đặng tuyển vào hàng Thái-giám (1). Tuy là chúa tôi hội-ngộ, nhưng vận-mạng nhà Nguyễn lúc ấy vẫn chưa thông, mà phước-tinh của ông Lê-văn-Duyệt cũng chưa chói-rạng.

    ĐOẠN THỨ III: ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT BỊ QUÂN TÂY-SƠN BẮT

    Trong lúc vua tôi phải bôn Nam trục Bắc, mưu lo sự khởi nghĩa phục-hưng, chẳng tả ra, ai ai cũng rõ cái lao-khổ của đức Nguyễn-Ánh và các tôi tùng-vong trong lúc ấy ra sao. Nhứt là ông Lê-văn-Duyệt; lao tâm khổ trí, hết lòng lo cho cơ-nghỉệp hoàng trào; ghe phen bị quân Tây-sơn rượt bắt, cực khổ không ngằn. Ngày kia, ông vướng phải tay binh Tây-sơn nã tróc, là ai thì đã bị hại rồi, mà người thì vẫn tỉnh trí luôn, không tỏ dấu chi buồn sợ, không một tiếng gì cầu khẩn, làm tuồng lơ-lảng, nên chi quân Tây-sơn tưởng người là kẻ vô-dụng bèn thả lỏng người không làm hại, nhờ vậy người mới thừa thế vượt ngục mà theo chúa Nguyễn-Ánh.

    Chúa tôi gặp nhau biết bao là vui mầng, sự gian-nan đã chia nhau mà gánh, thì cái lòng phục thù mưu đồ cơ-nghiệp lại càng dục-dã trong lòng. Đến đây mới thấy rằng: mỗi việc chi trên đời đều do vận-mạng. Tạo-vật tuy không nói cho mỗi người biết trước số phận mình sẽ ra sao, chớ chỉ dắt đường cho người đi mà thôi. Thử xem, Lê-công là một người thường, ở chốn thôn-quê lậu-hạng, nếu không có dịp chúa tôi đức Nguyễn-Ánh vào nghỉ trọn tại nhà mà gặp gỡ nhau, thì có lẽ đã chôn lấp một bực đại-tài thời ấy. Mà lẽ khi thời ấy cũng còn lắm kẻ ôm một lòng ái-quốc, gồm lấy sức học giúp nước an-dân như Lê-công Văn-Duyệt, mà hiềm vì không có dịp may đặng gặp thánh chúa như người, thiệt cái hờn dư của bực chí-sĩ anh-hùng ngàn xưa đến nay, chẳng biết bao nhiêu mà kể.

    ĐOẠN THỨ IV: BƯỚC SƠ-KHỞI CỦA ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT VÀO NGẠCH VÕ

    Đức Nguyễn-Ánh coi mòi ở trong nước bị quân Tây-sơn bắt buộc mãi, chúng nó bài-bố lưới-rập khắp nơi, lại binh-thế rất mạnh-mẽ, khó bề mưu đồ khôi-phục. Thế nên ngài phải đánh đường bôn tẩu qua nước Xiêm-la, trước tạm dung thân, sau chờ cơ-hội tốt mà cử-sự. Đến năm 1725, ngài từ giã nước Xiêm-la mà trở về. Toan đại cử binh mã liều sống thác với quân Tây-sơn một trận, nên chi ngài xuống lịnh cầu hiền. Phàm ai có một mưu chi hay, một chước chi giỏi, có thể giúp ngài thắng binh Tây-sơn, thì ngài trọng thưởng. Lúc ấy, ông Lê-văn-Duyệt dâng các kế sách, rất hiệp ý đức Nguyễn-Ánh. Ghe phen người thay mặt ngài mà điều-đình việc kia chuyện nọ, đâu đó đều đặng vẹn toàn.

    Lê-văn-Duyệt là người hay tự-quyết, có chí nhứt-định. Phàm việc chi không giao cho người kiểm-thúc thì thôi, bằng giao cho người thì thấy thi-hành liền. Vì thế mà đức Nguyễn-Ánh rất yêu chuộng, vì võ-lược người vận-trù dường có thần-linh giúp vậy, quyết đoán hẳng-hòi. Lắm lúc đức Nguyễn-Ánh với người vầy nhau ngồi dưới bóng cây mà tính-toan việc nước, người chỉ-vẽ rạch-ròi, chúa tôi đàm-đạo rất đầu-cơ, đến đỗi canh khuya sương lợp y-phục thấm ướt, mà cả hai đều không hay không biết. Do theo mưu người bày vẽ, chúa Nguyễn-Ánh mới nạp dụng trên hai mươi người văn-sĩ rành tài biện-bác, để du thuyết các miền Trung-Bắc hai kỳ, và chiêu mộ thêm binh tướng, tập rèn cho tinh-thông, chờ sau có đánh Tây-sơn.

    ĐOẠN THỨ V: MƯU-KẾ TẢ-QUÂN LÊ-CÔNG BÀY RA, CHIÊU-MỘ LÒNG DÂN.

    Lúc ấy chúa Nguyễn-Ánh lấy trọn trách-nhậm cho người lo lấy việc chiêu-mộ binh-lương. Người tính rằng: nếu muốn có binh-lương cho đủ dùng, đặng đối-địch quân Tây-sơn, thì trước hết phải lo làm cho lòng dân phục tùng mới đặng. Nhưng lòng dân trong buổi ấy hởi còn lưỡng-lự, chưa chắc phải theo đàng nào, vì quân Tây-sơn thì thủ-thắng luôn, còn chúa Nguyễn-Ánh lại bại trận mãi. Thấy lòng người bợ ngợ như vậy, ông Lê-văn-Duyệt mới định dùng kế mà thâu-phục mới xong.

    Người dạy kẻ tâm-phúc lấy đường và mật, viết vào lá mù-u non những câu chữ đoán trước, rằng binh chúa Nguyễn sẽ thắng, quân Tây-sơn sẽ bại-vong.

    Rồi đó loại kiến vàng, đánh mùi đường mật, trong ổ kéo ra có dây xúm lại mấy chỗ có đường mật bu ăn, làm cho mấy nét chữ đều lộ ra, như thể là mù-u sanh tự-nhiên mà có chữ viết sẵn vậy, ít tháng lá ấy già và rụng xuống, bay ra cùng nội khắp đồng; dưới sông trên lộ gì cũng có. Nhơn dân cả xứ lượm đặng lá mù-u, thấy có lời tiên-tri viết trong lá như vậy, bèn truỵền-ngôn với nhau. Cả thảy đều tưởng là thần-minh mách bảo, ý trời đã định trước, ngôi cửu-ngũ nước Nam phải về tay đức Nguyễn-Ánh là một đấng chơn-mạng đế-vương, vưng lịnh trời mà tiếp-thống. Chẳng bao lâu, nhà giàu thì dâng tiền của thóc gạo, người đinh-tráng mà nghèo thì đến trước bóng cờ phục quốc của chúa Nguyễn-Ánh mà xin tình-nguyện đầu-quân rất đông.

    ĐOẠN THỨ VI: ĐẠI-CHIẾN TRẬN THI-NẠI

    Từ ngày người lập mưu đã xong, thì nhơn-tâm đều day về nhà Nguyễn. Lại cũng từ đây, vì “sao phúc” của người đã khởi sự chiếu-diệu, nên trong trăm trận đánh binh Tây-sơn, người đều thủ thắng. Thiệt là “chiến tắc thắng, công tắc thủ”, phục-hưng nhà Nguyễn, công-lao người đáng cho là đệ nhứt vậy.

    Trong trăm trận vào sanh ra tử, chí khí anh-hùng dõng-cảm của người làm cho ai ai cũng đều kỉnh phục, binh-tướng thuộc-hạ đều khiếp oai mến nghĩa, cổ-võ theo gương khẳng-khái của người.

    Trong các trận, bia truyền trong công-lao bộ của người, đặng nổi danh nhứt là trận Thi-nại. Nguyên lúc ấy, quân Tây-sơn đã đánh lấy hết các nơi và vây ông Võ-Tánh là “Hổ-tướng Nam-kỳ” ta trong thành Qui-nhơn (Bình-định). Vì muốn trương thinh-thế cho Nam-kỳ đừng đem binh cứu-viện, nên chi quân Tây-sơn đem một đạo chiến-thuyền rất đông, đóng trước cửa biển Thi-nại. Cửa nầy thiên-nhiên đã có hai giải núi áng dài nơi trước: núi Tam-hòa bên tay mặt và núi Nhan-châu bèn tay trái. Mỗi phía đều liệt sẵn ba trăm chiến-thuyền. Thân giữa lại neo ba chiếc chiến-thuyền lớn gọi là Dinh-chiến-thuyền. Đạo chiến-thuyền giữa của thủy-sư đề-đốc Nguyễn-văn-Dõng qnảng-suất. Nguyễn-văn-Dõng vẫn là một tay tướng tài của quân Tây-sơn, và lúc đó, việc vây đánh thành Qui-nhơn thì lấy cho Trần-quang-Diệu cũng là một người danh-tướng điều-khiển. Quân Tây-sơn lại sắp các chiến-thuyền chiếc nầy khít với chiếc kia, rồi lại lấy dây đỏi liệt dính nhau lại cả. Tưởng làm vậy là hay là mạnh, chẳng dè làm vậy là thất-sách, vì quân Tây-sơn bị thất trận Thi-nại nầy, ví chẳng khác Tào-Tháo bên Trung-hoa xưa kia thất trận Xích-bích vậy. Mà cơ bại-vong của Tây-Sơn cũng bởi thất trận nầy.

    Đàng nầy chúa Nguyễn-Ánh đi tới cửa Cù-mông, đoàn chiến-thuyền ngài lúc dó đặng chừng năm trăm chiếc. Đầu năm ấy, ngài bổn-thân đem trên mười chiếc chiến-thuyền nhẹ, đi dọ thăm tình-hình trận-thế cho dễ bề bố trận bài binh. May nhờ gió thuận, nên thuyền ngài đi đến gần cửa Thi-nại rất mau. Khi bỏ ống thiên-lý xét coi trận-thế rồi, ngài thấy rõ cách của binh nghịch bài-bố ra sao. Vả lúc đi đường, hộ-giá tướng-quân Nguyên-văn-Trường có bắt đặng một chiếc thuyền tuần biển của giặc, chúng nó khai rõ mọi điều ở bển, và công-cuộc ngài xem xét trước mắt, thấy chiến-thuyền quân nghịch đều đóng dính nhau chiếc nầy liền với chiếc kia, làm cho ngài nghĩ-ngợi hồi lâu, rồi thơ ra mà nói rằng: « Phải có người dõng cảm dụng hỏa-công, thì phá chiến-thuyền này đặng ».

    Lúc ấy Tống-phước-Viết hầu gần bên ngài, nghe vậy liền tâu rằng: «Tâu Chúa-thượng, người mà chúa-thượng mơ-ước đó, vẫn ở gần bên Chúa-thượng! »

    Đức Nguyễn-Ánh nghe rồi, suy nghĩ hồi lâu, bèn dạy quày thuyền trở lại chỗ đội đại chiến-thuyền đang đậu. Nhằm lúc ông Lê-văn-Duyệt mắc đem binh bình phục các tỉnh kế-cận, ngài lập-tức hạ chỉ triệu ngay người về. Ngài nói cho người biết tình-hình binh nghịch ngài thấy như vậy, về ý ngài toan phá hủy đội chiến-thuyền binh-nghịch và định phú thác trọng-nhậm ấy cho Võ-duy-Nguy và người đề-đốc. Thì người và Võ-duy-Nguy đều khen cho kế đó là hay và bằng lòng thi-hành y ý-chỉ. Liền đó xuống lịnh lén sắm-sửa những đồ dẫn-hỏa sẵn-sàng, chờ giờ cử-sự.

    Nhằm ngày rằm tháng giêng, đúng giờ Dậu, lúc đỏ-đèn (6 giờ tối), dưới bóng trăng thinh, một đội chiến thuyền gần năm trăm chiếc, trên ba trăm chiếc chở đồ dẫn-hỏa, lìa cửa Cù-Mông, xông qua cửa Thi-Nại thì trời chưa sáng, liền đó xáp vào hỗn-chiến.

    Trên hai đồn Tam-hòa và Nhan-châu xổ súng đại-bác rầm-rầm, qnân Tây-sơn giữ cửa ấy cách can-đởm vô cùng. Ghe phen chiến thuyền nhà Nguyễn xáp vào, ghe phen bị đánh đổ phải thối lui. Hai bên đánh nhau từ sớm mai tới trưa mà chưa phân thắng phụ. Đàng binh Tây-sơn thì nhờ có súng trên các đồn bắn tiếp, hai bên đều hao binh tổn tướng rất nhiều, mà bên binh Nguyễn thì hao nhiều hơn. Lúc hỗn chiến, quan chưởng-cơ Võ-duy-Nguy bị đạn mà bỏ mình. Đến đây, ai cũng ngỡ là binh Nguyễn phải thua.

    Ông Lê-văn-Duyệt liền cầm binh thay thế ông Võ-duy-Nguy. Người một tay cầm gươm, một tay cầm cờ lịnh, đứng trước chiến-thuyền chỉ-huy đốc sức binh-tướng cứ việc xáp đánh vào đội chiến-thuyền Tây-sơn. Càng đánh bao nhiêu, binh Tây-Sơn càng trả bấy nhiêu, tên đạn mịt trời, hét la dậy đất. Lê-văn-Duyệt đứng trước mũi chiến-thuyền, tư bề tên đạn vụt-vụt bên tai, mà người vẫn sựng-sựng tự-nhiên, không hề nao-núng. Bởi vậy binh tướng đều theo gương người, càng đánh càng chết, mà lại càng hăng-hái.

    Đức Nguyễn-Ánh ở xa, trông thấy binh lính mười phần hao hết sáu bẩy, lấy làm bất-nhẫn, bèn xuống lịnh thối binh. Hai phen ngài xuống lịnh, thì hai phen ông Lê-văn-Duyệt đều đáp rằng người quyết chiến thắng. Người nói: « Nhà Nguyễn hưng vong cũng một trận này! »

    Bởi liều sống chết như vậy, nên rốt lại đạo chiến-thuyền nhà Nguyễn đánh ép chiến-thuyền Tây-sơn. Binh Nguyễn dùng đồ dẫn-hỏa ném vào chiến-thuyền bên nghịch. Giây lát lửa bắt cháy cùng, gió ngoài vàm lại thổi nà vào, làm cho lửa phát càng hăng, chiến-thuyền Tây-sơn đều bị cháy. Vậy mà binh Tây-sơn còn ráng đánh cho đến chỉ còn một chiếc chiến-thuyền, mà cũng không chịu thôi!

    Đánh nhau trọn ngày, đến giờ Thân (lối 5 giờ chiều), đạo đại binh của Tây-sơn chỉ còn lại có 100 người, dắt nhau noi đường bộ mà về thành Qui-nhơn, là nơi đại-binh đồn-trú, có đại-tướng-quân Trần-quang-Diệu điều-khiển.

    Nguyên ông Võ-Tánh lãnh chỉ giữ thành Qui-nhơn, bị quân Tây-sơn vây trong thành đã lâu. Bởi quân Tây-sơn muốn làm cho tuyệt một vị hổ-tướng Nam-kỳ, nên điều hết các đạo binh ròng về đóng tại đó. Hay vậy, ông Võ-Tánh viết mật thơ cho đức Nguyễn-Ánh, xin ngài xuất kỳ bất ý công kỳ vô bị, thừa hư đánh lấy thành Huế, vì lúc đó quân Tây-sơn không đề-phòng. Vì thế nên đức Ngnyễn-Ánh hiệp với đạo binh thắng trận Thi-Nại, kéo thẳng đánh thành Huế. Đến nơi thì chẳng gặp điều chi trở ngại cả. Nên từ đây binh Nguyễn đánh lần ra Bắc, đều đắc thắng luôn luôn.

    Kế đó ỏng Lê-văn-Duyệt đắc chỉ lịnh của đức Nguyễn-Ánh, cầm binh đánh thẳng ra Bắc-kỳ, bắt đặng vua nghịch là Nguyễn-quang-Toản, con của Nguyễn-văn-Huệ (là tay đại-thù của đức Gia-long), người liền dạy xử-tử Nguyễn-quang-Toản, và cả gia-quyến đều bị tử-hình.

    ĐOẠN THỨ VII: XIN GIẢI-TÁN QUÂN-BINH

    Sau khi bình-phục cả xứ Annam rồi, ông Lê-văn-Duyệt lại còn phải chịu lao-khổ lo cho trong xứ đặng an-tịnh nữa. Thiệt người là tay võ-lược gồm tài, kinh-tế đủ lẽ. Đức Gia-long thì có ý muốn để các đạo quân-binh lại đặng chỉnh-tu thành Huế và đạo-lộ các nơi. Thì ông Lê-văn-Duyệt ghe phen can-gián đức vua, phải giữ lời hứa mựa đừng thất tín. Vì trước kia, đửc vua có hứa sẽ giải-tán cho binh-lính hồi-hương, đặng hoan-tụ với cha mẹ vợ con nơi làng cha quán tổ, vì giặc-giã đã an rồi. Nhưng mà đức Gia-long lại bỏ qua không quản. Rốt rồi ông Lê-văn-Duyệt lấy làm bất-bình bèn nói: « Ngày nay đặng tôn-trọng mãn-ý, thì đức Gia-long lại quên lời hứa của Nguyễn-Ánh, thế thì từ đây ai còn dám tin lời Hoàng-đế nữa? »

    Vì lời trực-gián ấy, đức Gia-long phải cho binh lính giải-tán đặng về nhà, quân binh đều mầng rỡ, cảm đội ơn người vô-cùng.

    (Cái thói cang-trực cảm-ngôn ấy có khi hữu-ích, mà có lúc cũng hại cho mình. Bởi quen như vậy, sau người phải đức Minh-Mạng hiềm-thù, kiếm điều làm nhục cơn người quá-vãng).

    ĐOẠN THỨ VIII: ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT TRÁI Ý TRONG VỤ TUYỂN CHỌN ĐÔNG-CUNG

    Lúc đức Gia-Long gần thăng-hà, ngài bèn nhóm các trào thần, nhứt là các tôi tùng-vong, có theo phò ngài cơn hoạn-nạn, đặng tuyển chọn Đông-cung kế-vị. Ngài định lập đức hoàng Đảm (tức là đức Minh-Mạng, sanh tại chùa Khải-Trương, làng Tân-lộc Nam-kỳ, con của một vị thứ-phi), mà theo chánh-lý thì phải lập đức hoàng Mỹ-Dân là cháu đích-tôn ngài, con của đức Đông-cung Cảnh đã từ trần. Ngài phán rằng: « Nước mới bình phục, loạn lạc dễ sanh, nếu muốn cầm vững mối giềng, thì cần phải chọn người trưởng-thành, chớ chẳng phải phú thác cho một trẻ chưa lịch-duyệt thế tình ». Ý-chỉ ấy thì có một mình ngài nhận cho là phải, chớ phần đông các đại-thần đều chẳng phục tùng, vì là phạm luật « phụ truyền tử kế ».

    Các trào thần vẫn biết tánh tình đức hoàng Đảm hung-bạo, tàn-nhẫn, bất-nhơn, nên chi đồng sức tuyển chọn đức hoàng Mỹ-Dân; kể những công lao của cha người là đức Đông-cung Cảnh, lúc ấu xuân trải chịu muôn cay ngàn đắng, lắm nỗi hiểm nguy, sang Pháp-quốc cầu binh cứu viện trong cơn vận-mạng nhà Nguyễn gặp cảnh chẳng may, lúc về nước còn phải tùng chinh cực nhọc nhiều điều, và buộc vua phải tuân luật « phụ truyền tử kế ».

    Tuy quần-thần hiệp nghị, mà đức Gia-Long vẫn không nghe. Sau rồi lại trưng một doạn luật của ngài mà nói rằng : « Phụ trái tử huờn » (2). Quan thần e tâu lắm, làm nhọc lòng ngài cơn gần nhắm mắt, nên cực chẳng đã phải cúi đầu lãnh chỉ. Thế thì đức hoàng Đảm đặng lập làm Đông-cung, trái hẵn với luật-lệ nước nhà buổi ấy, mà ngài chẳng tự nhận, lại còn tỏ ý bất bình với quần thần, vì không muốn lập mình.

    Các đại thần chẳng thuận tuyển lập đức hoàng Đảm là: ông Lê-văn-Duyệt Tả-quân; Nguyễn-văn-Thành Trung-quân và Lê-văn-Chất.

    Đến lúc ấy chỉ có Trịnh-hoài-Đức là một vị quan lai-căng chệt, đánh chữ làm thinh mà thôi. Hỏi ý va, thì va cứ lặp câu chữ Tàu của người Lý-Tích xưa kia mà rằng: « Tri tử mạc nhược phụ, gia sự bất tất vấn ngoại nhân » (Ai biết con cho bằng người cha, việc nhà bất tất hỏi người ngoài!) Vì một câu đáp ấy, mà gần cả đời vua Minh-mạng trị vì, Trịnh-hoài-Đức đặng vua yêu vì gia-bội, còn các tôi trực gián cảm ngôn, lại phải tử hình không minh, biếm trích chẳng công.

    ĐOẠN THỨ IX: LÊ-VĂN-DUYỆT LÃNH TỔNG-TRẤN XỨ NAM-KỲ LẦN THỨ NHỨT.

    Sau khi giải-tán binh lính về Nam-kỳ thì chúng nó đã tập quen theo thói bơ-thờ, không vụ tất nghề-nghiệp làm ăn, nên xứ Nam-kỳ lúc ấy khốn đốn lắm. Những phe đảng cũ của quân Tây-sơn cũng tùng-phong tiếp-dẫn mà nổi lên. Chòm ong lũ kiến làm rối loạn khắp xứ, cướp giựt đốt phá tưng bừng. Các quan trấn không đủ sức dẹp nổi, thế quân loạn càng ngày càng tăng. Nên chi đức Gia-Long buộc phải sai ông Lê-văn-Duyệt vào Tổng-trấn xứ Nam-kỳ mà trừ loạn. Vì tài năng người, chẳng bao lâu đã dẹp an hết thảy.

    Lúc bình-loạn xứ Nam-kỳ, người gặp chẳng biết bao là cảnh ngộ khó khăn, vì phải dùng mưu kế mà thâu phục một tay cướp đảng không kiêng nể chi cả. Tên ấy tự xưng là Phụng-ba-đuôi. Bắt giết đặng tên Phụng-ba-đuôi rồi, thì mới bình định đặng sự loạn lạc trong Nam-kỳ, mà những chòm ong lũ kiến, hễ nghe danh người thì tan rã, thế chẳng khác gió đè cỏ yếu, nắng rã sương mai.

    ĐOẠN THỨ X: TÁNH CANG-TRỰC CỦA ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT, XỬ TỬ HUỲNH-CÔNG-LÝ

    Người sắp đặt việc cai-trị xứ Nam-kỳ rất nên kỹ-lưỡng khéo-léo, một mực công-bình; có công thì thưởng có tội thì răn, chẳng kiêng kẻ sang giàu, không sợ người quyền-thế.

    Vốn quan Hiệp-trấn Huỳnh-công-Lý là cha của một nàng cung-phi rất yêu của đức Minh-Mạng. Vị quốc-thích nầy tánh-tình tà vạy, dùng quyền thế vua hà-khắc nhơn dân và hà-lạm của công, vì ỷ mình là quốc-trượng, nên càng ngày càng làm lộng.Thói tà vạy đó làm cho ông Lê-văn-Duyệt không ninh đặng, bèn làm sớ kể hết mọi điều cho đức vua rõ.

    Điều trọng hệ hơn hết là xâm phạm mả mồ. Vì Huỳnh-công-Lý muốn xây thêm mộ phần cha cho lớn, bèn quật hủy các mồ-mả kế bên mà dời đi chôn nơi khác. Trong các mả ấy, có cái mả của một tên Đội, trước vì giúp vua Gia-long mà thác.

    Đức Minh-Mạng nhận cho lời sớ của Tả-quân là thiệt, nhưng không còn thế chi mà chữa mình cho cha vợ ngài, nên túng phải trả lời rằng: “Các điều tội tình của Huỳnh-công-Lý làm ra dó, thiệt đáng tội xử tử”. Ngài xin giải kẻ tội nhân về trào, đặng có xử tội, mà kỳ trung là đức vua có ý muốn cứu Huỳnh-công-Lý đó. Hiểu rõ trong tim đen của đức vua muốn đánh lừa mình. Người muốn sao cho tội thì phải phạt, nên dạy chém đầu Huỳnh-công-Lý, sai sứ-thần đệ thủ-cấp đựng trong một cái hộp có rắc muối cho khỏi thúi, ngoài đề chữ: « Xử tử theo chiếu-chỉ nhà vua ».

    Hay tin ấy, đức Minh-Mạng tức giận vô cùng, ngài coi điều đó là một việc bất kính. Nhưng vì Lê-công là cựu thần của tiên-đế, và lại là một tôi rường cột của nước nhà, nên ngậm hờn nuốt oán, ẩn-nhẫn để lòng. Điều nầy lại càng làm cho ngài lức giận hơn nữa, là sau khi Tả-quân xử tử Huỳnh-công-Lý rồi, lấy theo lẽ thường thì là người phạm luật nước; cha phạm luật phải tử hình, thì con phải bị phế-trích, vì nếu còn dùng trong cung nội e nhục thể chí-tôn, tôi dân không kính phục.

    ĐOẠN THỨ XI: ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT BẢO HỘ NGƯỜI LANG-SA VÀ NGƯỜI GIỮ ĐẠO THIÊN-CHÚA

    Có kẻ thuật rằng: ngày kia quan Tả-quân đang dự cuộc đá gà - vì đá gà và hát bộ là hai điều người sở thích hơn hết - xảy có mật chỉ của đức vua, buộc người phải làm lễ bái lãnh.

    Đọc xong chiếu-chỉ, người bèn vò nhầu tấm giấy vàng lại ném lên bàn, đi thẳng vào nhà trong và lầm bầm rằng: « Con người ta ăn cơm dính nướu ». Câu nầy có ý trách nhà vua sao vội quên công ơn người có công sớm vậy ». Không ai hiểu vì sao mà người giận làm vậy. Sau mới rõ, mật chỉ của nhà vua dạy bắt đạo và đuổi người Lang-sa ra khỏi xứ.

    Trọn đời người, thì hằng bảo bọc người giữ đạo Thiên-Chúa và ở tử tế với người Lang-sa luôn. Có lẽ người thấy biết rộng xa, đoán đến thời cuộc ngày sau xây đổi vậy chăng? Hay là thời may của dân Nam-kỳ, nhờ dịp đó mà mở dường giao thiệp với người Lang-sa, cho tới ngày nay là ngày tùng quyền bảo-hộ của người Lang-sa?

    ĐOẠN THỨ XII: TỪ CHỐI KHÔNG CHỊU “LẠY” ĐỨC VUA

    Nhằm lúc Trịnh-hoài-Đức sang sứ bên Bắc-kinh mới về, muốn bày đặt cho trào Nam noi dùng theo đại lễ tại trào Trung-hoa, lúc vào chầu hoàng-đế thì phải lạy. Mà ông Lê-văn-Duyệt cũng vừa vào chầu vua Minh-Mạng. Lần này, tánh tự-do của người lại làm cho vua Minh-Mạng thêm căm giận nữa. Ngày người vào chầu vua, đức Minh-Mạng mặc đồ đại-trào mới gởi mua bên Trung-hoa, ngồi trên ngai vàng, chờ ông Lê-văn-Duyệt bái yết. Chẳng dè người vào rồi trò chuyện với đức Minh-Mạng cũng như thể người nói với đức Gia-long mọi lần vậy. Quan Lễ-bộ thượng-thơ là Trịnh-hoài-Đức bước lại gần nhắc người phải lạy, vì tưởng đâu là người quên; chẳng dè người nổi nóng mà đáp lớn lên rằng: “Ngươi là đứa phùng nghinh! Ngươi làm vậy chớ ta làm không đặng”.

    Vua Minh-Mạng rất bất bình về tánh kiêu căng của người. Ngài giận ngầm, chờ khi trả oán.

    ĐOẠN THỨ XIII: ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT LÌA TRẦN, TRA XÉT VỀ SỰ CAI-TRỊ CỦA NGƯỜI.

    Tánh tự-do, cang-nghị của Tả-quân càng ngày càng nhúm vào lòng đức Minh-Mạng một ngọn lửa lưu thù bão oán. Vì khiếp nhược, sợ Tả-quân binh-quyền sẵn, nha trảo đông, không dám trả thù ngay mặt, ngài chờ cơ-hội sau sẽ xuống tay. Cơ-hội ấy xảy ra trong ngày 30 tháng 7 rạng mặt mùng 1 tháng 8 năm Nhâm-thìn (1853), là lúc Bạch-hổ-tinh qui-vị, Tả-quân lâm trọng bịnh mà lìa trần: người hưởng thọ 70 tuổi (ngày tang-tóc của họ Lê và các tướng-tá phụ-thuộc Nam-kỳ lại là ngày vui mầng reo cười của vua nhà Nguyễn đối với kiếp chết một đấng công-thần, thiệt lạ thay!)

    Điều cần nhứt của đức vua về việc Nam-kỳ là bãi quyền Kinh-lược, đặng chia trọn xứ ra làm sáu tỉnh (Nam-kỳ lục-tỉnh), mỗi tỉnh đều đặt một quan Tổng-đốc, một quan Bố-chánh và một quan Án-sát cai-trị.

    Đức Minh-Mạng lại phú thác cho quan Bố-chánh Bạch-xuân-Nguyên kiếm tìm những điều sai quấy của quan Tả-quân lúc sanh tiền, đặng làm tội người mà rửa hận (việc này đến lúc Bạch-xuân-Nguyên chết rồi, ngài mời bố cáo ra).

    Nguyên đức vua có mật chỉ cho Bạch-xuân-Nguyên, tra xét về chánh trị của Tả-quân khi trước, đặng kiếm cớ làm nhục danh giá người. Bởi « hữu thị quân tất hữu thị thần ». Bạch-xuân-Nguyên hết lòng thi-hành chỉ-dụ của nhà vua.

    --- Đọc tiếp P.2 ---


    Không có nhận xét nào