Vũ Thế Thành
06/10/2026
“…Lịch sử là những chuỗi sự kiện lạnh lùng. Nếu muốn tiếp cận sự thật để luận cổ suy kim thì đừng để cảm tính hay định kiến chính trị xen vào. Như thế chỉ thỏa mãn cái sướng của bản thân mà thôi
Dù vậy, khi đọc Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long như một tiểu thuyết lịch sử, tôi vẫn thấy đôi chút cảm khái bài ca của Đỗ thị:
“… Nhớ ngày xưa, chàng ra đi, thiếp nặng dòng lệ biệt ly!
Bây giờ chàng ngồi đó, thiếp chẳng dám gần!…”
Lý trí biết đây là câu chuyện văn chương; nhưng đọc vẫn thấy chuyện đời như lảng vảng đâu đây. Không chỉ là quan hệ vợ chồng, mà cha mẹ - con cái, bạn bè. Thiệt chạnh lòng”.

Một bậc đàn anh của tôi, sau năm 75 thất thế đi làm công nhân hỏa xa. Công việc được gia đầy chất “vinh quang” là cưa đường rầy (nghĩa đen). Trong một tối thù tạc, anh trầm ngâm nói, nên đọc Đông Chu liệt quốc để ngẫm nhân tình thế thái, và cũng để hiểu chuyện đời.
Đông Chu liệt quốc thì tôi đã đọc cả bộ trước 75, nhưng không sao nhớ hết, vì quá nhiều nhân vật, nhiều tiểu quốc nay hợp, mai tan, mốt sáp nhập. Tôi nghe lời, đọc lại Đông Chu liệt quốc để giải khuây sau những cơn say. Dù lần này đọc chậm hơn, kỹ hơn, nhưng cũng không sao nhớ hết được.
Hôm qua chợt nhớ câu chuyện Bá Lý Hề, năm bộ da dê, nên lấy Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long (bản dịch của Mộng Bình Sơn) ra đọc lại đoạn Bá Lý Hề.
Câu chuyện đại khái thế này:
Bá Lý Hề là đại phu nước Ngu thòi Xuân Thu, bỏ trốn sang Sở. Tần Mục Công nghe tiếng Bá Lý Hề là bậc hiền tài, muốn chuộc ông về. Nhưng nếu đưa giá cao, e vua Sở nghi ngờ, bèn đưa giá thấp, chỉ 5 bộ da dê – Bá Lý Hề được chuộc về Tần, làm thượng khanh, gọi là “Ngũ cổ đại phu”.
Bá Lý Hề thưở hàn vi, rất nghèo, bèn bỏ nhà ra đi lập nghiệp. Hôm chia tay, vợ là Đỗ thị, làm thịt con gà mái đang đẻ, tháo then cửa làm củi nấu món ăn đãi chồng.
Sau khi chồng bỏ đi, Đỗ thị mang con đi khắp nơi tìm kế sinh nhai, lưu lạc sang nước Tần làm nghể giặt thuê. Nghe tin Bá Lý Hề làm tướng quốc nước Tần, vài ba lần trông thấy Bá Lý Hề ngồi xe, mão cao, áo dài, nhưng mặc cảm nghèo hèn, không dám ra nhận.
Khi có ban hát vào dinh Bá Lý Hề đàn hát. Đỗ thị nói với phường nhạc cũng biết chút đàn hát, và xin đứng dưới thềm quan, gảy đàn và hát. Hát rằng:
Bá Lý Hề, năm bộ da dê!
Nhớ ngày ly biệt, mổ gà mái ấp, nấu nồi cơm vàng!
Tình thiết tha!
Nay phú quý, nỡ quên ta sao
Bá Lý Hề, năm bộ da dê!
Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài.
Chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê hoài.
Nay phú quý, nỡ quên ta sao!
Bá Lý Hề, năm bộ da dê!
Nhớ ngày xưa, chàng ra đi, thiếp nặng dòng lệ biệt ly!
Bây giờ chàng ngồi đó, thiếp chẳng dám gần!
Phú quý cao sang, nỡ quên ta sao!
Bá Lý Hề nghe câu hát, bước đến gần nhận ra người vợ năm xưa. Cả hai ôm nhau khóc - Vợ chồng đoàn tụ.
Đọc lại đoạn này, tôi tự hỏi: Đỗ thị vào dinh tướng quốc đàn hát, mà lời bài ca dám gọi thẳng tên quan “Bá Lý Hề” sao?
Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long thật ra là tiểu thuyết lịch sử, được viết vào thời Minh. Phùng Mộng Long dựa vào chính sử và nhiều tư liệu cổ để viết, nhưng những câu chuyện cụ thể trong đó dĩ nhiên đã được văn chương hóa.
Tôi tra lại mục Tần bản kỷ, trong Sử Ký Tư Mã Thiên, chỉ nói đến Tần Mục công dùng 5 bộ da dê chuộc Bá Lý Hề, chứ không đề cập tới Đỗ thị tìm chồng và bài hát “Bá Lý Hề, năm bộ da dê!…”
Lịch sử là những chuỗi sự kiện lạnh lùng. Nếu muốn tiếp cận sự thật để luận cổ suy kim thì đừng để cảm tính hay định kiến chính trị xen vào. Như thế chỉ thỏa mãn cái sướng của bản thân mà thôi
Dù vậy, khi đọc Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long như một tiểu thuyết lịch sử, tôi vẫn thấy đôi chút cảm khái bài ca của Đỗ thị:
“… Nhớ ngày xưa, chàng ra đi, thiếp nặng dòng lệ biệt ly!
Bây giờ chàng ngồi đó, thiếp chẳng dám gần!…”
Lý trí biết đây là câu chuyện văn chương; nhưng đọc vẫn thấy chuyện đời như lảng vảng đâu đây. Không chỉ là quan hệ vợ chồng, mà cha mẹ - con cái, bạn bè. Thiệt chạnh lòng!
Vũ Thế Thành
Không có nhận xét nào