Kỳ 4, Phần IV
Đinh Hoàng Thắng
September 30, 2026
Photo: Đà Nẵng, Kirandeep Singh Walia, pexels
PHẦN IV
KHAI MỞ: MỘT VIỆT NAM CHUYỂN MÌNH TRONG MỘT THẾ GIỚI CHUYỂN ĐỔI
Nếu Trường tồn là năng lực không biến mất và Trưởng thành là năng lực trở thành một chủ thể hành động ý thức được mình là ai và mình phải làm gì, thì Khai mở đặt ra một câu hỏi khó hơn: Việt Nam sẽ chuyển mình như thế nào để thực hiện quyền tự do lựa chọn trong một thế giới mà tất cả luật chơi đều đang đồng thời thay đổi?
Đây không còn là thế giới tương đối quen thuộc của những thập niên sau Chiến tranh Lạnh, khi toàn cầu hóa dường như là một dòng chảy tiến bộ ngày càng rộng mở của nhân loại, các thị trường tưởng như tất yếu sẽ ngày càng hội nhập, và người ta vẫn có thể phân biệt tương đối rõ những đòi hỏi của kinh tế với an ninh, công nghệ với địa chính trị. Những ranh giới ấy hiện đang mờ nhạt dần. Thuế quan có thể trở thành công cụ chiến lược; chất bán dẫn đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia; dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đang sản sinh những hình thức quyền lực mới; còn các chuỗi cung ứng vừa gắn kết các nền kinh tế, vừa phơi bày ra những điểm dễ tổn thương trong tương quan giữa chúng với nhau.
Bởi vậy, có lẽ còn quá sớm để đơn giản gọi những gì đang xuất hiện là một “trật tự thế giới mới”. Một trật tự hàm ý những quy tắc đã đạt tới một mức độ ổn định nhất định. Những gì chúng ta đang chứng kiến giống một cục diện toàn cầu đang chuyển dịch trên quy mô lớn: cái cũ chưa biến mất, cái mới chưa định hình; cạnh tranh và hợp tác cùng tồn tại; sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế không loại bỏ đối đầu chiến lược mà còn có thể tạo thêm những nguồn dễ tổn thương mới.
Đối với Việt Nam, trạng thái bất định này mang theo cả nguy lẫn cơ!
“Nguy” nằm ở chỗ một quốc gia tầm trung, tiếp giáp Trung Quốc, phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế và gắn sâu vào các chuỗi cung ứng xuyên biên giới, khó có thể tự cách ly khỏi những cú sốc hệ thống bắt nguồn từ bên ngoài. Nhưng sỡ dĩ còn “cơ” là vì hệ thống đang chuyển đổi, những không gian lựa chọn về chiến lược và sách lược vẫn chưa hoàn toàn khép lại. Một quốc gia không nhất thiết phải trở thành cường quốc mới có giá trị chiến lược. Trong thế giới mạng lưới, vị thế của một nước ngày càng phụ thuộc không chỉ vào quy mô của nó, mà còn vào những gì nó kết nối, những năng lực nó sở hữu và mức độ các nước khác cần đến những gì nó có thể cung cấp.
Bởi vậy, “Khai mở” không đặt câu hỏi Việt Nam nên “đứng về phía nào”. Nó đặt ra một câu hỏi khác: Việt Nam phải trở thành một chủ thể hành động như thế nào để có thể tự mình lựa chọn, thay vì để người khác lựa chọn thay mình?
18. Từ lời nguyền địa lý đến năng lực lựa chọn
Địa lý đã và vẫn đang là một trong những nhân tố chi phối sâu sắc đối với lịch sử Việt Nam.
Một đất nước dài và hẹp, hướng ra Biển Đông, nằm ở nơi Đông Á lục địa gặp Đông Nam Á, đồng thời có chung biên giới với một trung tâm quyền lực khổng lồ ở phương Bắc: cấu trúc địa lý ấy đem lại những cơ hội giao lưu, nhưng cũng đưa tới những sức ép từ bên ngoài mà hầu như thế hệ người Việt nào cũng phải đối diện.
Có thể gọi đó là một “lời nguyền địa lý”, với điều kiện hiểu chữ “lời nguyền” không phải như định mệnh, mà như một bài toán không bao giờ có thể gạt khỏi cuộc khảo thí. Việt Nam không thể lựa chọn láng giềng, nhưng có thể lựa chọn cách sống bên cạnh láng giềng ấy. Việt Nam không thể thay đổi quy mô của Trung Quốc, nhưng có thể thay đổi sức mạnh của chính mình, bằng biên độ rộng và chất lượng sâu của các mối quan hệ và cái giá mà bất kỳ thế lực nào có ý định xâm lấn cũng phải cân nhắc trước khi tìm cách gây sức ép lên người Việt.
Theo nghĩa đó, lịch sử Việt Nam không chỉ là lịch sử đấu tranh với địa lý. Đó còn là lịch sử học cách tận dụng điều kiện địa lý.
Nguyễn Trãi từng nhìn ra cửa biển Bạch Đằng và viết: “Quan hà bách nhị do thiên thiết / Hào kiệt công danh thử địa tằng.” Thiên nhiên tạo ra “thế”, nhưng chính con người mới biến thế thành lịch sử. Bạch Đằng không tự đánh thắng một trận chiến. Núi sông có thể cung cấp địa thế; chúng không cung cấp mưu lược, tổ chức, ý chí hay thời cơ.
Điều ấy càng đúng trong thế kỷ XXI.
Biển Đông ngày nay không chỉ là không gian của những yêu sách chủ quyền cạnh tranh. Đây còn là một bộ phận của một trong những hành lang thương mại hàng hải quan trọng nhất thế giới. Vì vậy, địa lý Việt Nam đồng thời là một điểm dễ tổn thương nhưng vẫn là một tài sản kết nối. Nhưng địa lý chỉ trở thành tài sản chiến lược khi một quốc gia có thể chuyển vị thế thành năng lực.
Một cảng biển có vị trí thuận lợi chưa đương nhiên là một trung tâm logistics. Một quốc gia nằm trong các chuỗi cung ứng toàn cầu chưa chắc đã kiểm soát được bất kỳ mắt xích then chốt nào của những chuỗi ấy. Một nước thu hút được các nhà máy nước ngoài không tự động nắm được công nghệ, dữ liệu, sở hữu trí tuệ hay năng lực thiết kế phía sau chúng. Việc được nhiều cường quốc săn đón cũng không nhất thiết đem lại quyền tự do lựa chọn lớn hơn, nếu nền kinh tế và các thiết chế của nước đó vẫn phụ thuộc vào những nguồn lực mà mình không kiểm soát. Vậy một quốc gia phải “tạo nên giá trị gia tăng” cho nền kinh tế toàn cầu như thế nào để các nước khác tìm đến hợp tác và coi trọng những nguyện vọng của mình?
Chính để trả lời cho những tương tác ấy, quan hệ Việt – Trung ngày càng cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của điều mà Khảo luận này gọi là “bang giao tổng trì”. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng không thể bị giản lược thành những cặp đối lập “được–mất”, hữu nghị hoặc đối đầu. Sự đan cài phức tạp giữa hai dân tộc giao cắt với hầu như mọi nghịch lý lớn của lịch sử Việt Nam: gần gũi văn hóa nhưng cố giữ khoảng cách; tiếp biến nhưng chống đồng hóa; chiến tranh và dung hòa; bất đối xứng quyền lực; quan hệ Đảng–Đảng; biên giới đất liền; Biển Đông; thương mại; chuỗi cung ứng; an ninh; và bài toán thường trực về tự chủ quốc gia.
Bởi vậy, giảm lệ thuộc vào Trung Quốc không có nghĩa là thoát khỏi mọi quan hệ với Trung Quốc. Địa lý không cho Việt Nam lựa chọn ấy, và lợi ích quốc gia cũng không đòi hỏi sự lựa chọn giản đơn như vậy.
Thách thức là chuyển từ lệ thuộc bất đối xứng sang tương thuộc lẫn nhau có thể quản trị được.
Điều đó đòi hỏi một cách nhìn tỉnh táo hơn cả tâm lý bài Trung lẫn những ảo tưởng do diễn ngôn hữu nghị tạo ra. Trung Quốc đồng thời là một láng giềng không thể tránh, một thị trường và nguồn cung lớn, và một cường quốc có những lợi ích không phải lúc nào cũng trùng hợp với lợi ích của Việt Nam. Chính vì quan hệ ấy rộng, sâu và cận kề về địa lý, tự chủ không thể được bảo vệ chỉ bằng những tuyên bố ngoại giao trau chuốt. Nó phải được thể chế hóa, được bảo đảm bằng các năng lực kinh tế, công nghệ, quốc phòng, thể chế và kết nối với mạng lưới quốc tế.
Từ đây xuất hiện một nghịch lý quan trọng: để sống độc lập bên cạnh một cường quốc, bước đi quan trọng nhất có thể không phải là giảm mọi kết nối với cường quốc ấy, mà là gia tăng những quan hệ đối ngoại khác và những năng lực bên bên trong quốc gia mà mình nhất thiết phải bám trụ và dựa vào.
Đó là lý do “đa phương hóa, đa dạng hóa” chỉ mang lại lợi thế thực chất khi chúng tạo ra quyền tự do lựa chọn lớn hơn.
Nếu những đầu vào chiến lược vẫn chủ yếu đến từ một nguồn; nếu xuất khẩu vẫn dễ bị tổn thương trước một vài thị trường; nếu công nghệ cốt lõi vẫn phải mua từ bên ngoài; và nếu doanh nghiệp trong nước vẫn tập trung vào các hoạt động, hàng hóa và dịch vụ có thể dễ dàng chuyển sang nơi khác, thì có thêm đối tác ngoại giao, kể cả “đối tác chiến lược toàn diện” (CSP), chưa chắc đã đem lại nhiều tự chủ chiến lược hơn.
Việt Nam thường được nhìn nhận là tương đối thành công trong việc phòng ngừa rủi ro giữa các nước lớn, nhờ vị trí địa chiến lược, mạng lưới quan hệ ngày càng mở rộng và tầm quan trọng gia tăng trong các chuỗi cung ứng đang được tái cấu trúc. Nhưng giới hạn dài lâu của trạng thái “ở giữa” ấy cũng rất rõ: vị thế Việt Nam cuối cùng sẽ tùy thuộc vào khả năng chuyển một vị trí thuận lợi thành những năng lực thể chế mà các nước khác khó thay thế. Việt Nam không thể thay đổi vị trí của mình; Việt Nam chỉ có thể huy động vốn con người và vốn xã hội để tận dụng tốt nhất vị trí ấy cùng những khả năng mà nó mở ra — trước hết là những khả năng do chính người dân trong nước hiện thực hóa.
Bởi vậy, vượt qua lời nguyền địa lý, vì thế, không có nghĩa là phải đánh bại địa lý.
Nó có nghĩa là không để địa lý quyết định thay thế vị trí của mình trong lịch sử và trong các vấn đề thế giới.
19. Từ “đứng giữa” đến tham gia mạng lưới
Trong nhiều năm, vị thế Việt Nam được mô tả bằng những hình ảnh như “cân bằng”, “phòng ngừa rủi ro”, “ngoại giao cây tre”, hoặc đứng ở một khoảng giữa các cường quốc. Những cách mô tả ấy phản ánh một phần thực tế của một đất nước quyết không để mình bị cuốn hoàn toàn vào đối đầu giữa các nước lớn. Nhưng chúng cũng có thể tạo ra một ảo tưởng: thế giới về cơ bản là một bàn cờ do một vài đấu thủ lớn chi phối, còn nhiệm vụ của Việt Nam chủ yếu là tìm một ô tương đối an toàn để khu trú.
Có thể đi sâu hơn vào vấn đề này. Nhà sử học Trần Quốc Vượng từng cho rằng một trong những câu hỏi lý luận lớn và phức tạp là quan hệ quy định lẫn nhau giữa những thực thể được gọi là quốc gia–dân tộc với cái toàn thể rộng lớn hơn mà chúng ta gọi là lịch sử nhân loại hay lịch sử thế giới, trong đó còn một tầng trung gian: các khu vực và các nền văn minh. Theo ông, chiều kích tương tác ấy còn đặc biệt kém phát triển trong sử học Marxist. Cách đặt vấn đề này giúp tránh hai sai lầm đối nghịch: xem lịch sử dân tộc như một hệ sinh thái biệt lập, hoặc hòa tan nó vào một chủ nghĩa phổ quát trừu tượng.
Có thể hình dung Việt Nam như một giọt nước trong đại dương. Giọt nước có những thuộc tính riêng, nhưng không thể tồn tại bên ngoài đại dương; thủy triều, hải lưu và bão tố của biển lớn đều đưa đẩy nó. Tuy nhiên, quan hệ ấy không hoàn toàn một chiều. Chính đại dương được tạo thành từ vô số giọt nước, và những dòng chảy lớn của nó hình thành từ tương tác giữa vô vàn yếu tố nhỏ hơn. Việt Nam được thế giới định hình, nhưng thông qua lựa chọn, năng lực và kết nối của mình, Việt Nam cũng tham gia định hình một phần thế giới mà mình đang sống.
Cách nhìn này đặc biệt phù hợp với cục diện toàn cầu hiện nay. Quyền lực không còn chỉ phân bố giữa các quốc gia; nó còn lưu chuyển qua những mạng lưới chồng lấn về công nghệ, tài chính, năng lượng, dữ liệu và chuỗi cung ứng. Một quốc gia có thể hợp tác về an ninh với một đối tác, phụ thuộc công nghệ vào một đối tác khác, có thị trường xuất khẩu lớn nhất ở một nước thứ ba, đồng thời phải thích ứng với các hệ thống quy định do nhiều trung tâm quyền lực khác nhau thiết lập. Quốc gia–dân tộc không biến mất dưới tác động của toàn cầu hóa. Đúng hơn, nó phải học cách phát huy năng lực chủ thể trong một môi trường mà việc thực thi chủ quyền ngày càng tận dụng sự tùy thuộc lẫn nhau.
Đây là ý niệm về sức mạnh liên kết: linh hoạt hơn, mang tính hợp tác hơn và vận động theo nhiều hướng hơn so với cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm. Thông qua liên kết – thông qua những cơ chế kiềm chế và đối trọng dẫn tới quan hệ đối tác, cùng việc tìm kiếm thế cân bằng – một dân tộc có thể thu được lợi ích lâu dài từ nhiều dân tộc khác.
Một biểu hiện nổi bật là sự phân hóa đang xuất hiện trong nền kinh tế toàn cầu xoay quanh Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu. Sebastian Contin Trillo-Figueroa đặt tên cho “chiều kích hóa” của quá trình này là “phân nhánh ba” (trifurcation): không phải sự chia cắt đơn giản thành hai khối đối đầu, mà là sự xuất hiện của những không gian pháp lý–kinh tế chồng lấn và cạnh tranh. Thuế quan, kiểm soát xuất khẩu, tiêu chuẩn công nghệ, quy định về dữ liệu, sàng lọc đầu tư và thực thi pháp luật ngoài lãnh thổ ngày càng trở thành công cụ của quyền lực địa kinh tế. Vì vậy, một doanh nghiệp hay một quốc gia có thể đồng thời hoạt động trong nhiều mạng lưới với những quy tắc không phải lúc nào cũng tương thích.
Tuy nhiên, quyền lực trong hệ thống ấy không chỉ thuộc về những chủ thể lớn nhất. Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Đài Loan và những nền kinh tế khác không phải siêu cường vẫn nắm giữ các vị trí then chốt, bởi họ sở hữu công nghệ, thiết bị hoặc năng lực sản xuất mà chuỗi giá trị toàn cầu khó có thể thay thế. Trong một thế giới mạng lưới, quyền lực vì thế không chỉ được đo bằng lãnh thổ, dân số hay nguồn lực quân sự, mà còn bằng khả năng chiếm giữ một vị trí mà sự vắng mặt của nó sẽ gây khó khăn cho những bộ phận khác trong hệ thống.
Thực tế này đòi hỏi Việt Nam phải vượt khỏi tâm thế chỉ “đứng giữa”. Nếu thế giới chỉ là bàn cờ của các cường quốc, các nước nhỏ chủ yếu phải học cách tránh bị nghiền nát giữa những quân cờ lớn hơn. Nhưng nếu thế giới còn là một mạng lưới, một quốc gia tầm trung có thể gia tăng tự chủ bằng cách trở thành một nút có giá trị trong mạng lưới ấy. Câu hỏi chiến lược không còn đơn thuần là Việt Nam nên đứng ở đâu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, mà là Việt Nam có thể tạo ra hoặc sở hữu điều gì khiến các mạng lưới quan trọng cũng cần đến mình, và vì vậy chủ động tìm đến Việt Nam với những đề nghị có lợi.
Sự chuyển đổi trong tư duy chiến lược, từ tập trung vào vị trí sang xây dựng năng lực, có ý nghĩa căn bản. Vị trí phần lớn do địa lý trao cho; năng lực phải được kiến tạo.
Do đó, khái niệm điểm nghẽn chiến lược (strategic chokepoint) cần được hiểu rộng hơn một eo biển trên bản đồ. Điểm nghẽn của thế kỷ XXI có thể là một tuyến hàng hải, nhưng cũng có thể là một công nghệ chế tạo, một loại chất bán dẫn, một khoáng sản thiết yếu, một tiêu chuẩn kỹ thuật, một nguồn dữ liệu, một hệ thống thanh toán hay một công đoạn chuyên biệt trong chuỗi cung ứng. Việt Nam không thể và cũng không cần kiểm soát tất cả những mắt xích ấy. Điều quan trọng là xác định những lĩnh vực trong đó địa lý, nguồn nhân lực và năng lực tổ chức có thể kết hợp để tạo ra giá trị đủ quan trọng và đủ khó thay thế.
Trí tuệ nhân tạo hiện làm cho thách thức này càng có ý nghĩa lớn hơn. Đối với những quốc gia còn đang đuổi kịp, AI mở ra khả năng thu hẹp một số khoảng cách, nhưng cũng có thể tạo thêm một tầng lệ thuộc. Một xã hội có thể sử dụng hàng triệu công cụ AI mà vẫn chủ yếu là người tiêu dùng, nếu dữ liệu, hạ tầng tính toán, mô hình, sở hữu trí tuệ và phần lớn giá trị kinh tế đều nằm ở nơi khác. Vì vậy, thách thức không chỉ là nhanh chóng ứng dụng AI, mà là đi nhanh nhưng “không đi trong mù”: khai thác công nghệ mới đồng thời phát triển con người, dữ liệu và các năng lực cần thiết để kiểm soát ít nhất một phần giá trị mà công nghệ ấy tạo ra.
Ở đây hiện lên một nguyên tắc rộng hơn: công nghệ có thể khuếch đại năng lực của một chủ thể hành động, nhưng không thể tự tạo ra ý hướng tự chủ cần thiết để trở thành một chủ thể thực sự làm chủ sự hiện hữu của mình. Một quốc gia thiếu năng lực lựa chọn có thể sở hữu những công nghệ tiên tiến nhất mà vẫn hoạt động chủ yếu trong những điều kiện do bên ngoài xác lập. Một quốc gia biết mình cần gì và có khả năng tổ chức tương ứng lại có thể sử dụng chính công nghệ ấy để mở rộng không gian hành động của mình.
Tuy nhiên, điều này lại đưa chúng ta trở về với hình ảnh người Việt như một “giọt nước”. Mở mình ra đại dương không có nghĩa là hòa tan trong đó. Kết nối càng rộng, năng lực nội sinh càng quan trọng, bởi mạng lưới chỉ làm tăng sức mạnh của một quốc gia khi quốc gia ấy có điều gì đó có giá trị để đưa vào mạng lưới. Nếu không, hội nhập có thể mở rộng thị trường và tạo tăng trưởng mà không mở rộng tương xứng quyền tự do lựa chọn.
Vì vậy, bước chuyển cần thiết không phải từ “đứng giữa” sang “chọn phe”, mà từ đứng giữa sang tham gia, từ tham gia sang tạo giá trị, và từ tạo giá trị sang có năng lực góp phần định hình những mạng lưới mà mình thuộc về. Việt Nam có thể vẫn chỉ là một giọt nước trong đại dương mênh mông của lịch sử nhân loại, nhưng trưởng thành có nghĩa là hiểu rằng giọt nước ấy vừa được những dòng chảy lớn đưa đi, vừa có khả năng góp phần tạo nên chính những dòng chảy đó.
Theo nghĩa ấy, ngoại giao không thể chỉ là nghệ thuật tìm một vị trí an toàn giữa các lực tác động từ bên ngoài. Nó phải trở thành một bộ phận của năng lực quốc gia: chuyển địa lý thành kết nối, kết nối thành giá trị và giá trị thành quyền tự do lựa chọn. Chỉ khi ấy, Việt Nam mới có thể chuyển từ chỗ nằm trên bàn cờ sang tham gia định hình những nước đi của cuộc cờ.
20. Từ hội nhập đến năng lực nội sinh
Trong những thập niên Đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế là một trong những lựa chọn chiến lược có hệ quả sâu rộng nhất của Việt Nam. Từ một nền kinh tế tương đối khép kín, Việt Nam đã tham gia sâu vào thương mại toàn cầu, thu hút những dòng đầu tư nước ngoài lớn, mở rộng thị trường xuất khẩu và gia nhập nhiều mạng lưới sản xuất xuyên quốc gia. Nhưng chính thành công ấy đặt ra câu hỏi xác định giai đoạn tiếp theo: tham gia sâu hơn vào thế giới có nhất thiết làm cho một quốc gia mạnh lên tương xứng hay không?
Không có gì tự động bảo đảm điều đó. Hội nhập có thể tạo tăng trưởng mà chưa tạo đủ tự chủ. Nó có thể đưa một quốc gia vào các chuỗi cung ứng mà chưa giúp quốc gia ấy kiểm soát những hoạt động tạo ra giá trị lớn nhất. Một nền kinh tế có thể trở thành nước xuất khẩu lớn trong khi vẫn phụ thuộc nặng nề vào đầu vào, linh kiện, công nghệ và thị trường bên ngoài. Trong những thời kỳ thuận lợi, các giới hạn ấy có thể được che khuất; khi cạnh tranh địa kinh tế gia tăng, chúng nhanh chóng trở thành những nguồn dễ tổn thương.
Bởi vậy, cần phân biệt độ mở với năng lực khai mở. Tự thân “độ mở” đo lường mức độ một nền kinh tế kết nối với thế giới bên ngoài. “Năng lực khai mở” liên quan đến việc liệu những kết nối ấy có thể được chuyển thành tri thức, công nghệ, doanh nghiệp, vốn con người và những năng lực của chính mình hay không. Một quốc gia thực sự mở không chỉ vì hàng hóa và vốn dễ dàng đi qua biên giới, mà còn vì xã hội của nó có thể học hỏi, hấp thụ, đổi mới và cuối cùng tạo ra giá trị mà các nước khác tìm đến.
Từ góc nhìn này, đầu tư nước ngoài không nên chỉ được đo bằng vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu. Câu hỏi khó hơn là điều gì còn lại sau mười hoặc hai mươi năm: bao nhiêu công nghệ đã được hấp thụ, bao nhiêu nhà cung ứng nội địa đã trưởng thành, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đã vươn lên những nấc cao hơn của chuỗi giá trị. Nếu một nhà máy có thể chuyển đi nơi khác và phần lớn tri thức, công nghệ cùng năng lực quyết định cũng ra đi theo nó, thì nước tiếp nhận chủ yếu nắm giữ địa điểm sản xuất hơn là làm chủ năng lực khiến hoạt động sản xuất ấy trở nên khả thi.
Những thay đổi của kinh tế toàn cầu hiện nay khiến câu hỏi này ngày càng cấp bách. Điều từng được xem chủ yếu dưới góc độ hiệu quả – mua ở đâu rẻ nhất, sản xuất ở đâu thuận tiện nhất – nay được cân nhắc nghiêm túc như các vấn đề an ninh, khả năng chống chịu và quyền làm chủ vận mệnh. Các cường quốc sử dụng thuế quan, trợ cấp, kiểm soát xuất khẩu, chính sách công nghiệp và tiêu chuẩn công nghệ để tái định hình chuỗi cung ứng. Trong môi trường ấy, lợi thế của một quốc gia không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ hay ưu đãi đầu tư. Nó ngày càng phụ thuộc vào chất lượng con người, hạ tầng, hệ thống pháp luật, độ đáng tin cậy của thể chế và khả năng xây dựng những năng lực khó thay thế.
Cảnh báo của Stephen M. Walt về những “vũng lầy chiến lược” có hàm ý vượt ra ngoài các cuộc chiến mà ông trực tiếp bàn tới. Các quốc gia có thể mắc kẹt không chỉ vì một cuộc can thiệp đã sai lầm ngay từ đầu, mà còn vì những chính sách vẫn được duy trì sau khi các giả định ban đầu của chúng không còn đúng. Thiếu hiểu biết, tư vấn một chiều, tư duy bầy đàn, sự tự tin thái quá và uy tín đã đặt cược vào các quyết định trước đó có thể khiến việc thừa nhận cần điều chỉnh đường hướng ngày càng khó khăn. Do đó, năng lực chiến lược không chỉ nằm ở quyết tâm theo đuổi một chính sách, mà đôi khi còn ở khả năng nhận ra lúc nào cần sửa đổi, làm thế nào để hạn chế tổn thất, hoặc chuyển hẳn sang một phương hướng mới.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những quốc gia không có nguồn lực vô hạn. Một cường quốc có thể gánh chịu cái giá của sai lầm suốt nhiều năm mà vẫn còn khả năng phục hồi đáng kể. Một quốc gia tầm trung hiếm khi có sự xa xỉ ấy. Vì vậy, Việt Nam cần một năng lực mà các chiến lược phát triển không phải lúc nào cũng nhấn mạnh đầy đủ: năng lực tự sửa sai. Điều đó đòi hỏi thông tin đủ chính xác để chất vấn những giả định, tranh luận đủ cởi mở để làm lộ diện các phương án khác, và những cơ chế bảo đảm rằng các tín hiệu không thuận tai vẫn có thể đến được với người chịu trách nhiệm quyết định.
Tuy nhiên, năng lực nội sinh không chỉ là tránh sai lầm. Đó còn là khả năng chuyển nguồn lực hiện có thành năng lực mới. Giáo dục phải tạo ra những con người có khả năng tiếp tục học hỏi, thay vì chỉ hoàn thành một chương trình; doanh nghiệp phải tiến từ gia công lên thiết kế và đổi mới; khoa học phải gắn với sản xuất; và người Việt ở nước ngoài phải có những kênh để tri thức cùng mạng lưới của họ đóng góp vào năng lực quốc gia. Một nền kinh tế chỉ nhập khẩu máy móc sẽ luôn chờ đợi thế hệ máy móc tiếp theo từ nơi khác. Một xã hội học được cách tạo ra tri thức có thể bắt đầu tự xây dựng thế hệ tiếp theo ấy.
Trí tuệ nhân tạo đem lại một phép thử đặc biệt rõ cho sự phân biệt này. Chiến lược AI quốc gia mới của Việt Nam nhấn mạnh nhân lực, hạ tầng, dữ liệu, nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ, thay vì chỉ ứng dụng AI. Ý nghĩa của định hướng ấy nằm ở câu hỏi bên dưới: Việt Nam sẽ chủ yếu trở thành thị trường cho trí tuệ nhân tạo của người khác, hay sẽ có năng lực tự tạo ra một phần dữ liệu, sản phẩm, doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và giá trị của mình?
Nguyên tắc đi nhanh nhưng không đi mù vì thế vượt xa lĩnh vực AI. Trong một thời đại mà công nghệ thay đổi nhanh hơn nhiều chu kỳ chính sách, đi quá chậm có thể đồng nghĩa với mất cơ hội; nhưng chạy theo mọi làn sóng công nghệ mới cũng có thể tạo thêm những tầng lệ thuộc. Khai mở đòi hỏi điều khó hơn cả thận trọng lẫn hào hứng: đủ nhanh để không lỡ thời cơ, đủ sáng suốt để biết mình đang đi đâu, và đủ năng lực để không trao toàn bộ tay lái cho công nghệ, vốn hay những mô hình được tạo ra ở nơi khác.
Khoảng cách giữa một chiến lược quốc gia trên giấy với một năng lực quốc gia thực sự luôn là khoảng cách phải được vượt qua bằng tổ chức và thực thi. Những mục tiêu đầy tham vọng chỉ trở thành sức mạnh có thể huy động khi được các trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và bộ máy hành chính tiếp nhận, triển khai, để cuối cùng trở thành những năng lực sống động, hiện hữu trong những con người cụ thể.
Bởi vậy, giai đoạn hội nhập toàn cầu tiếp theo không thể đơn giản chỉ là hội nhập nhiều hơn. Nó phải có nghĩa là hấp thụ sâu hơn, học hỏi nhanh hơn và sáng tạo nhiều hơn. Nếu giai đoạn đầu của Đổi mới mở cửa Việt Nam ra thế giới, thì giai đoạn Khai mở mới phải giúp Việt Nam chuyển những gì tiếp nhận từ thế giới thành năng lực của chính mình.
Bởi một quốc gia chỉ có quyền tự do lựa chọn mang ý nghĩa thực chất khi đồng thời có năng lực hành động hiệu quả để thực hiện những lựa chọn mình mong muốn.
(còn nữa)
TS. Đinh Hoàng Thắng
Một phiên bản Anh ngữ của Kỳ 4 có thể đọc tại đây
———————–
Tài liệu tham khảo cho PHẦN IV
Nguyễn Trãi, Ức Trai thi tập, đặc biệt bài “Bạch Đằng hải khẩu”. Nguồn nay làm cơ sở cho mạch tư tưởng được triển khai trong các mục 18 và 22: “Trời tạo thế, con người làm nên lịch sử”.
Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa-văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. Đây là một nguồn tham khảo cho Phần IV: không gian địa–văn hóa của Việt Nam, quan hệ giữa tính đặc thù của Việt Nam với khu vực và thế giới rộng lớn hơn, cùng cơ sở khái niệm cho hình ảnh “giọt nước Việt Nam trong đại dương — và đại dương trong giọt nước”.
Hoàng Minh Thảo, các công trình và bài giảng về nghệ thuật quân sự và tư duy chiến lược Việt Nam, đặc biệt khung khái niệm “Mưu – Kế – Thế – Thời” — nguồn trực tiếp cho mục 22.
Lê Hồng Hiệp và Anton Tsvetov (chủ biên), Vietnam’s Foreign Policy under Doi Moi [Chính sách đối ngoại Việt Nam thời Đổi mới], ISEAS–Yusof Ishak Institute, Singapore, 2018.
Nicholas Chapman, “Vietnamese Foreign Policy in the Post-Doi Moi Era: A Case for Strategic Autonomy” [Chính sách đối ngoại Việt Nam thời hậu Đổi mới: Luận cứ cho tự chủ chiến lược], TRaNS: Trans-Regional and -National Studies of Southeast Asia, Cambridge University Press, 2026. Nguồn này liên quan trực tiếp tới mục 21 về tự chủ chiến lược, đa phương hóa, đa dạng hóa và xây dựng các mạng lưới quan hệ nhằm bảo vệ chủ quyền, duy trì không gian phát triển.
ASEAN, ASEAN Outlook on the Indo-Pacific [Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương], 2019 — đặc biệt liên quan tới lập luận không giản lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương thành bàn cờ lưỡng cực Mỹ–Trung, đồng thời giữ vai trò quan trọng của kết nối, hợp tác và ASEAN trong cấu trúc khu vực.
Marty Natalegawa, Does ASEAN Matter? A View from Within [ASEAN có quan trọng không? Góc nhìn từ bên trong], ISEAS–Yusof Ishak Institute, 2018 — bổ sung góc nhìn Đông Nam Á về năng lực chủ thể của các quốc gia và khu vực, thay vì chỉ nhìn thế giới từ Washington hoặc Bắc Kinh.
Henry Farrell và Abraham L. Newman, “Weaponized Interdependence: How Global Economic Networks Shape State Coercion” [Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Các mạng lưới kinh tế toàn cầu định hình sức mạnh cưỡng ép của nhà nước như thế nào], International Security, 44(1), 2019, tr. 42–79. Một trong những nguồn trụ cột mới cho mục 19: mạng lưới bất đối xứng, trung tâm kết nối, điểm nghẽn và khả năng biến sự phụ thuộc lẫn nhau thành quyền lực.
Henry Farrell và Abraham Newman, Underground Empire: How America Weaponized the World Economy [Đế chế ngầm: Hoa Kỳ đã vũ khí hóa nền kinh tế thế giới như thế nào], Henry Holt, 2023.
Sebastian Contin Trillo-Figueroa, “The Reshaping of Global Trade as EU, China and US Shift to Enforcement” [Thương mại toàn cầu được tái định hình khi EU, Trung Quốc và Hoa Kỳ chuyển trọng tâm sang thực thi], Nikkei Asia, tháng 9/2026 — một nguồn mới đặc biệt có giá trị cho mục 19: sự phân nhánh ba, sự chồng lấn của ba không gian pháp lý–kinh tế và tính chất ngày càng mang tính cưỡng chế, địa kinh tế của thương mại quốc tế.
Richard Baldwin, The Great Convergence: Information Technology and the New Globalization [Cuộc hội tụ lớn: Công nghệ thông tin và toàn cầu hóa mới], Harvard University Press, 2016 — về sự phân tách sản xuất xuyên biên giới, công nghệ thông tin và logic đang thay đổi của các chuỗi giá trị toàn cầu.
Dani Rodrik, The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy [Nghịch lý toàn cầu hóa: Dân chủ và tương lai kinh tế thế giới], W. W. Norton, 2011 — đặc biệt liên quan tới câu hỏi xuyên suốt các mục 20–23: hội nhập có thể đi xa tới đâu trong khi vẫn giữ được không gian chính sách quốc gia và năng lực lựa chọn?
Albert O. Hirschman, The Strategy of Economic Development [Chiến lược phát triển kinh tế], Yale University Press, 1958 — một nguồn kinh điển vẫn hữu ích cho việc suy nghĩ về các mối liên kết, điểm nghẽn, năng lực nội sinh và phát triển không cân đối, đặc biệt ở bước chuyển từ mục 19 sang mục 20.
Ngân hàng Thế giới, Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World – Pathways to a High-Income Future [Việt Nam 2045: Nâng tầm thương mại trong một thế giới thay đổi — Những con đường hướng tới tương lai thu nhập cao], 2024 — nguồn thực chứng quan trọng cho mục 20: Việt Nam cần chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn thông qua công nghệ, kỹ năng và đổi mới, thay vì bằng lòng với vị trí hiện tại trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngân hàng Thế giới, Viet Nam 2045: Breaking Through – Institutions for a High-Income Future [Việt Nam 2045: Bứt phá — Thể chế cho một tương lai thu nhập cao], 2025 — tập trung vào thể chế thay vì chuỗi giá trị. Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh cải cách thể chế sâu hơn, môi trường pháp lý và quản lý, cùng hiệu quả đầu tư công.
Stephen M. Walt, “Top Signs You’re Heading for a Quagmire” [Những dấu hiệu chủ yếu cho thấy bạn đang tiến vào một vũng lầy], Foreign Policy, tháng 9/2026: liên quan tới các mục 20 và 22: thiếu hiểu biết → tư vấn sai → tư duy bầy đàn → tự tin thái quá → uy tín đã đặt cược. Đối với TĐV, vấn đề cốt yếu không phải bản thân “vũng lầy”, mà là khả năng phát hiện sai lầm, cắt giảm tổn thất và tự sửa sai.
Parag Khanna, Connectography: Mapping the Future of Global Civilization [Địa lý kết nối: Vẽ bản đồ tương lai của văn minh toàn cầu], Random House, 2016 — được giữ lại cho mục 19, đặc biệt cho bước chuyển từ địa lý lãnh thổ sang kết nối, nhưng không biến “địa lý kết nối” thành lý thuyết trung tâm của TĐV.
Tô Văn Trường, “AI: Nỗi lo của thế giới giàu, cơ hội của Việt Nam?”, 2026. Một bài bình luận/trường hợp nghiên cứu của Việt Nam cho các mục 20 và 23: “đi nhanh, nhưng không đi mù”, từ sử dụng AI tới năng lực làm chủ công nghệ và cuối cùng là câu hỏi về năng lực phán đoán của con người. Những nhận định cụ thể về chính sách trong bài cần được đối chiếu với văn bản chính thức.
Chính phủ Việt Nam, Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, 2026 — nguồn sơ cấp cho phần thảo luận về AI. Văn bản chính sách chính thức được ưu tiên hơn việc bổ sung một nguồn báo chí thứ hai về AI.
Joseph S. Nye Jr., The Future of Power [Tương lai của quyền lực], PublicAffairs, 2011 — cung cấp khung rộng hơn để hiểu sự thay đổi bản chất quyền lực trong một thế giới mà quyền lực không còn có thể được đồng nhất chỉ với lãnh thổ và năng lực quân sự.
Không có nhận xét nào