Header Ads

  • Breaking News

    VIỆT NAM QUỐC DÂN CHỦ NGHĨA

    Đây là tài liệu mà Khu bộ Đông Nam Á vừa nhận được do " Đảng Bộ Đông Dương - VNQDĐ " gởi đến.

    Tài liệu biên soạn năm 1992.

    Báo Quốc Dân đăng tải để rộng đường dư luận.

    DÂN TỘC ĐỘC LẬP – DÂN QUYỀN TỰ DO – DÂN SINH HẠNH PHÚC


    DÂN TỘC ĐỘC LẬP

    I. NGUỒN GỐC DÂN TỘC

    II. VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

    III. TINH THẦN ĐỘC LẬP

    IV. LÒNG YÊU NƯỚC

    V. NGHĨA ĐỒNG BÀO

    VI. ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC


    I. NGUỒN GỐC DÂN TỘC


    Dân tộc Việt Nam sống trên một lãnh thổ có diện tích khiêm nhường, thường trực bị dòm ngó, nhiều phen bị xâm lăng, mà không bao giờ mất cá tính với phong tục tập quán, ngôn ngữ đặc thù độc lập. Sức sống của dân tộc Việt Nam quả thật mạnh mẽ phi thường, tạo thành một giòng lịch sử văn hiến nhân bản, đến nay đã hơn bốn ngàn năm.

    Về nguồn gốc dân tộc Việt, có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng địa vị và giá trị của dân tộc Việt đã được khắp năm châu công nhận. Những khuôn mặt xâm lăng hung hiểm, cường bạo nhất trên thế giới đã tràn đến đều bị quét khỏi nước non ta. 

    Theo Chí sĩ Phan Bội Châu, Đảng trưởng Danh dự của Việt Nam Quốc dân đảng thì dân tộc ta thuộc dòng giống Tiên Rồng, lãnh thổ ta nguyên xưa rộng lớn: Bắc tới vùng đất Hán phía nam Dương Tử, Nam đến tận châu Hoan, châu Ái. 

    Trong bài "Định nghĩa Ái quốc", Đảng trưởng Danh dự đã nhập đề như sau:


    "Giòng giống Tiên Rồng,

    "Máu da hoàng Hán,

    "Chôn nhau cắt rốn,

    "Ở đất nước nhà,

    "Ta là con nước..."


    • TRUYỀN THUYẾT

    Truyền thuyết được truyền tụng trong khắp nhân gian, liên tục từ đời này sang đời khác như một thứ kinh nhật tụng, quen thuộc một cách thống nhất rằng: Cháu ba đời vua Thần Nông là Đế Minh đi tuần du phương Nam gặp nàng Vụ Tiên, lấy làm vợ mà sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục được phong làm vua phương Nam, đế hiệu là Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương kết hôn với con gái Động Đình Quân (vua xứ Động Đình), sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi cha, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết hôn với Âu Cơ, con gái Đế Lai, vua phương Bắc sinh được trăm trứng, nở trăm con trai. Năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên núi. Con trưởng kế vị, đế hiệu Hùng Vương, quốc hiệu Văn Lang. Truyền được 18 đời thì bị nhà Thục lấy mất ngôi vua.

    Người Việt Nam đời đời, ai ai cũng nhận Hùng Vương là Tổ của dân tộc mình. Hàng năm cứ mồng 10 tháng 3 âm lịch là tổ chức giỗ Tổ rất trọng thể.


    • SỬ SÁCH

    Sách Dư Địa Chí do Nguyễn Trãi viết, niên hiệu Thái Bình thứ hai, đời vua Lê Thái Tông (1435):

    "Vua trước tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra đã có thánh đức, được phong tại Việt Nam là Tổ của Bách Việt.

    Hùng Vương nối nghiệp đặt tên nước là Văn Lang, chia làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng và Cửu Đức.

    Hùng Vương là con Lạc Long Quân, cháu Kinh Dương Vương, nơi đóng đô gọi là Văn Lang, truyền ngôi được 18 đời đều xưng là Hùng Vương".

    *

    Năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ mười (1479) đời vua Lê Thánh Tông, sử quan Ngô Sỹ Liên đề tựa sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư" về thiên Ngoại Kỷ đã viết:

    "Nước Đại Việt ta ở phía Nam Ngũ Lĩnh, thế trời đã chia ranh giới Bắc Nam, thủy tổ ta vốn dòng dõi họ Thần Nông, như vậy là Trời đã sinh ra bậc chúa chân chính. Vì thế mới ngang hàng cùng Bắc triều mà làm chủ một phương".

    *

    Đại Việt Sử ký Toàn thư của sử gia Ngô Sỹ Liên có ghi:

    "Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, dòng dõi Thần Nông. Nguyên cháu nội vua Đế Viêm họ Thần Nông là Đế Minh, sau khi sinh ra Đế Nghi bèn đi tuần du phương Nam, lấy con gái Vụ Tiên mà sinh ra vua (tức Kinh Dương Vương). Vua bẩm sinh thánh trí, Đế Minh rất yêu, muốn truyền ngôi báu. Vua không dám nhận, nhường lại cho anh. Đế Minh bèn lập Đế Nghi làm vua phương Bắc, phong vua Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỷ. Vua lấy con gái vua Động Đình là nàng Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. 

    Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm, lấy Âu Cơ là con gái vua Đế Lai, sinh ra trăm con trai là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Rồi từ biệt, chia 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về Nam Hải, phong con trưởng làm vua xưng là Hùng Vương.

    Hùng Vương đóng đô ở châu Phong (thuộc bộ Văn Lang) đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng và Cửu Đức. Văn Lang là đô của nhà vua. Các bộ đều thân thiết với nhau".

    Năm Giáp Tuất, đời vua Lê Tương Dực, niên hiệu Hồng Thuận thứ sáu (1514), ông Lê Tung, làm quan đến chức Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu, Thiếu Bảo Lễ Bộ Thượng Thư, Đông Các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu vâng lệnh vua soạn "Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận" có đoạn viết về dân tộc như sau:

    "Kể từ Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng, nối dòng Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, sáng tỏ đạo vợ chồng, giữ gìn phong hóa căn bản. Vua thì lấy đức mà cảm hóa dân nên việc chính trị không phức tạp, do đấy mà thanh nhàn. Dân thì cấy cầy mà ăn, đào giếng mà uống, sớm làm tối nghỉ. Đó chẳng phải là phong tục thái cổ của Viêm Đế hay sao?

    Lạc Long Quân nối đời Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc, có điềm lành là sinh trăm con trai. Tổ người Bách Việt thật bắt đầu từ đấy. Hưởng lộc nước rất lâu dài. Đã phú thọ lại nhiều con trai, xưa nay chưa từng có vậy. 

    Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban dân đức mà giữ yên trăm họ, chuyên nghề làm ruộng chăn tằm, không có can qua chinh chiến. Con cháu nối dòng đều gọi là Hùng Vương, hưởng phúc 18 đời vua, lâu dài hơn hai ngàn năm. Chính trị ngay thẳng, đơn giản, dân không gian dối, phong tục thuần hậu chất phác". 

    Ngoài ra, sách Việt Sử Lược hoặc còn gọi là Đại Việt Sử lược của một tác giả đời Trần có viết về thời Hùng Vương, nội dung không khác với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên.

    Những bộ sách có giá trị gần đây như Việt Nam Sử lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim, Việt Nam Văn hóa Sử cương của Đào Duy Anh, về nguồn gốc dân tộc, đại để cũng ghi lại như truyền thuyết. 

    Do gốc nguồn như vậy mà người dân Việt gọi nhau là đồng bào, một danh từ độc đáo mà người nước khác không có. Đồng bào nghĩa nôm na là cùng chung bọc mẹ, một từ đã được dùng từ bao nhiêu đời trước, không phải là một từ mới có từ khi kháng chiến chống xâm lăng thực dân. Trong thơ nôm của Nguyễn Trãi, bài Gương Sáng Khuyên Răn thứ 15 đã viết:

    "Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền

    Cành Bắc cành Nam một cội nên"

    Là đồng bào cốt nhục nên yêu thương khăng khít, đoàn kết sinh tồn mãi mãi trong đại gia đình dân tộc. 

    Người Việt Nam ta trên dưới 70 triệu đồng bào cùng một cội nguồn Tiên Rồng, cùng một ngôn ngữ, cùng chung phong tục tập quán tạo thành một nền văn hóa nhân luân. Hiển nhiên chúng ta hoàn toàn là một dân tộc.

    Dân tộc ta hiện nay sống trong hoàn cảnh nghèo nàn nhất thế giới về kinh tế, lạc hậu nhất thế giới về văn minh vật chất (khoa học thực nghiệm). Vị trí nước ta thuận tiện cho việc các quốc gia giao thông, về hàng hải cũng như hàng không. Tài nguyên ta phong phú và trinh nguyên. Công nhân ta thông minh cần mẫn và dồi dào. Cảnh trí thiên nhiên ta đẹp. Những ưu điểm trên đã kích thích lòng tham chiếm đoạt của các cường quốc. 

    Việt Nam Quốc Dân Đảng tin tưởng ở tiềm năng và ý chí dân tộc, tin tưởng ở tình đoàn kết nghĩa đồng bào mà chủ trương Dân Tộc Độc Lập để cứu nước. Chỉ có sức mạnh đoàn kết dân tộc mới cứu được nước. Muốn có sức mạnh đoàn kết, Đảng phát khởi phương thức: chấn hưng tình gia tộc. Gia tộc khăng khít và trọng đạo nghĩa thì dân tộc chấn hưng. Các gia tộc Việt Nam vốn cùng dòng giống Tiên Rồng, trong quá khứ hơn bốn ngàn năm chưa từng có đổ vỡ giữa các gia tộc, sự kiện này đủ bảo đảm cho hiện tại và tương lai: quốc tộc hay dân tộc thành một khối vững bền. 

    Không vũ khí nào tiêu diệt được một dân tộc đoàn kết.

    Không một bạo lực nào đàn áp nào có thể đặt ách nô lệ mãi mãi lên vai một dân tộc đoàn kết.

    Không một áp bức kinh tế chính trị nào có thể đè lực áp bức mãi mãi trên cuộc sống của một dân tộc đoàn kết.

    Bảy mươi triệu con người, bảy mươi triệu trái tim khối óc của dòng giống Tiên Rồng chắc chắn sẽ cứu được nước và đưa nước đến địa vị ngang hàng với các cường quốc trên thế giới.


    ÔI! CÁC ANH CHỊ EM! MÁU IN NHAU GIỌT ĐỎ, DA IN NHAU SẮC VÀNG, ĐẦU IN NHAU TÓC ĐEN, MẮT IN NHAU TRONG MẮT, GIỐNG TIÊN RỒNG, NÒI HỒNG LẠC, TRẢI MẤY NGHÌN NĂM MỚI CÓ, BÂY GIỜ CON MỘT HỌ, CHÁU MỘT DÒNG, NẾU CỨ THEO LẼ THƯỜNG, CHẮC MÁU AI THẤM THỊT NẤY, ĐÁNH ĐÁ THỜI ĐAU ĐẾN LÒNG GẠCH, CHẾT THỎ THỜI SA ĐẾN NƯỚC MẮT HỒ, VẪN ĐẠO TRỜI CÓ THỂ MỚI NGANG NHIÊN, MÀ TÌNH NGƯỜI CÓ THỂ MỚI CHÍNH ĐÁNG"


    • PHAN BỘI CHÂU (Cao Đẳng Quốc Dân)


    II. VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG


    Lịch sử nhân loại là một giòng tiến hóa không ngừng, trong đó không thể phủ nhận sự hiện hữu của tình nhân loại nhưng đồng thời cũng không thể chối bỏ những cuộc đấutranh tương tàn ngược nhân tính. Nhất là từ khi các chủng tộc tạo thành các quốc gia, bạo lực xâm lăng đã không ngừng xảy ra giữa các dân tộc, hoặc vì quyền lợi của một số cá nhân. Rất đỗi những người bi quan về giá trị nhân phẩm đã nhìn lịch sử nhân loại như một giòng lịch sử đấu tranh tương tàn. 

    Những cuộc vì lợi tương tranh làm đổ vỡ phần nào tương quan nhân ái giữa người với người, dần dà tạo nên một trạng thái quái đản: các quốc gia không còn coi nhau như huynh đệ mà đối phó nhau như những đối thủ cần khắc phục hoặc tiêu diệt. Cuộc sống dã thú mạnh được yếu thua, không tình không nghĩa đã trở thành một công lý cho những thế lực bạo tàn phi nhân. Tình trạng "nhân tâm duy nguy đạo tâm duy vi" (lòng người điên đảo, lòng đạo vi diệu nên lòng người dễ dàng rời xa lẽ chân lý thiện hảo) tràn ngập thế gian. Bang giao giữa các quốc gia đầy trí trá. Có những sắc dân đã diệt chủng, có những sắc dân đang trên đà diệt chủng.

    Trước tương quan bạo lực và hiểm trá ấy, lịch sử cho thấy rằng dân tộc nào có văn hóa thì sinh tồn, dân tộc nào thiếu văn hóa sẽ bị đồng hóa hoặc diệt vong.

    Thế nào gọi là văn hóa? Định nghĩa một cách tổng cương, văn hóa là những công trình do con người xây dựng nên, phù hợp với tình người, thuận với lòng người, làm cho con người trở nên cao cả và sống có hạnh phúc. Như vậy, những công trình dù lớn lao đến đâu, nhưng ngược với tính người, phản lại tình người, làm cho nhân phẩm đê hạ và cuộc sống đau khổ là những công trình phản văn hóa. 

    Dân tộc Việt Nam có văn hóa hay không?

    Hiển nhiên ta có một nền văn hóa độc lập, sáng tạo bằng công lao tim óc của người Việt Nam, một nền văn hóa do chính dân tộc Việt Nam làm tác giả: "Như nước Đại Việt ta, quả là một nước văn hiến, núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác" (Nguyễn Trãi- Bình Ngô Đại Cáo).

    Xét trong lịch sử loài người, khi một dân tộc văn hóa thấp kém tiếp xúc với một dân tộc có văn hóa cao, thường bị đồng hóa, có khi đến bị diệt chủng. Mạnh mẽ giàu có như Liêu quốc mà nay bản đồ bị xóa, dân Liêu còn sống sót rất ít ỏi, sống lang thang điêu tàn ở Hoa Hạ, Bắc Việt và Lào. Đại Lý cũng lâm tình trạng như vậy. Mông Cổ đã từng chiếm hết châu Á chiếm cả Trung hoa, tàn phá châu Âu vậy mà tiêm nhiễm văn hóa Trung Hoa, nay đã gần như bị đồng hóa hoàn toàn. Mãn Thanh cai trị Trung Hoa, vì thấy văn hóa Trung hoa cao hơn văn hóa Mãn, có thiện chí học theo, đến nay Mãn Châu chỉ còn là Đông Tam Tỉnh của Trung hoa. Tại sao thực dân Trung Hoa đô hộ nước ta một ngàn năm với nhiều thủ đoạn nhằm đồng hóa dân ta, với những áp lực kinh tế chính trị tàn khốc, nhằm làm kiệt quệ sức đề kháng của dân ta mà cuối cùng Việt nam vẫn là một nước độc lập do dân tộc Việt Nam làm chủ? Tại vì ta có sẵn một nền văn hóa cao cả lấy người làm gốc. Nền văn hóa của ta bền vững cội nguồn từ tính người, nở hoa trái đẹp tình người. 

    Văn hóa truyền thống Việt nam không tàng trữ nơi những công trình xây cất vĩ đại tráng lệ. Các đấng tiên vương tiết kiệm mồ hôi nước mắt của đồng bào nên đã cấm chỉ xa hoa. Văn hóa truyền thống của Việt Nam cũng không tàng trữ trong thi thư kinh điển: một ngàn năm Bắc thuộc hẳn tổ tiên ta đã chứng kiến biết bao tàn phá văn hóa do kẻ xâm lược tạo ra. Đối phó với tình trạng ấy và để bảo tồn văn hóa, để ngăn quốc nạn đồng hóa, tổ tiên chúng ta đã tồn trữ văn hóa bằng phương thức lấy tĩnh chế động, lấy nhu khắc cương, lấy hư chứa thực. Văn hóa được duy trì và phát huy bằng văn chương truyền khẩu. Văn hóa luân lưu, thấm nhuần khắp mọi tầng lớp dân gian, văn hóa gắn liền với nếp sống, với lời ăn tiếng nói của người dân.

    Không bạo lực phi nhân nào còn có thể đập phá kho tàng văn hóa ấy. Không ngọn lửa hung tàn nào có thể thiêu hủy pho thi thư nhân bản đã và đang in vào lòng toàn thể quốc dân Việt Nam. Văn hóa dân tộc chính là tiềm lực sinh tồn tự chủ. Càng gian khổ, càng phát huy lớn mạnh thành một lực bảo chủng phi thường, đã quét sạch quân thù, cởi bỏ ách nô lệ, dân tộc Việt đòi lại độc lập, dân làm chủ nước, nước là của dân, cùng Bắc phương ngang hàng xưng đế. Biên cương lãnh thổ phân minh, phong tục ngôn ngữ khác biệt, nhà cửa, áo quần nhất nhất đều mang cá tính dân tộc Việt Nam. Thật đúng nghĩa một dân tộc thuần túy và độc lập.


    III. TINH THẦN ĐỘC LẬP


    Độc lập không có nghĩa là lẻ loi, trơ trọi, cắt đứt mọi tương quan với các nước ngoài. Bế quan tỏa cảng chỉ là một hình thức che mắt quốc dân, chặn đường tiến bộ, biến cả nước thành một nhà tù hủ lậu, không thể không mất nước trước đà tiến hóa của các quốc gia khác. Khi chưa bị mất nước thì dân đã là dân nô trong cái ngục xã hội hẹp hòi tăm tối.

    Độc lập có nghĩa là dân làm chủ nước, chủ quyền dân tộc trên lãnh thổ, quê hương hoàn toàn tự chủ, không bị chi phối bởi bất cứ ảnh hưởng hay áp lực nào đến từ ngoại quốc. 

    Tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam đã có từ khi lập quốc. Sử tích Thánh Gióng đời Hùng Vương thứ sáu đánh đuổi giặc Ân phương Bắc đã cho ta nhận thấy rằng: nước ta vốn từ xưa đã có lãnh thổ phân minh không phải chỉ là một châu quận của lãnh thổ Trung Hoa. Dân ta yêu cuộc sống tự chủ, sẵn sàng dấn thân hy sinh bảo vệ nền độc lập. Yêu quý độc lập là một cá tính mãnh liệt trong huyết mạch dòng giống Việt Nam, cho nên sử tích Thánh Gióng, không cần ghi chép, truyền miệng nối đời, không người dân Việt nào không biết, không người dân Việt nào không nhớ.

    Ngàn năm Bắc thuộc dân ta không bao giờ chấp nhận phận dân nô. Ngoài những vĩ nhân phất cờ độc lập như Trưng Vương, Triệu Ẩu, Tiền Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại vương, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Dương Diên Nghệ, cho đến khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, đã có không biết bao nhiêu cuộc nổi dậy làm cho kẻ ngoại xâm ăn không ngon ngủ không yên. Sách sử ghi lại rằng kẻ đô hộ luôn luôn sống trong tình trạng phải phòng thủ đề cao cảnh giác vì dân bản xứ rất nhiều kẻ bỏ ruộng hoang nhà trống, ẩn náu nơi rừng thiêng nước độc, hễ có cơ hội là đánh phá không thôi.

    Một ngàn năm liên tục như vậy, liên tục không ngừng đấu tranh giành độc lập cho đến khi đòi lại được độc lập mới yên lòng. Tấm lòng yêu độc lập của dân tộc ta thật là kiên trì quyết liệt có một không hai trong lịch sử nhân loại.

    Để giành lại độc lập cho dân tộc, đâu phải chỉ do công lao của những anh hùng lưu danh trong lịch sử, mà còn do công lao của biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã hy sinh thân thế máu xương.

    Đất nước ta, sông núi ta còn được đến ngày nay là do tim óc máu xương của biết bao đời liên tục hy sinh bảo vệ. Vậy nên đồng bào chúng ta yêu quý non nước vô cùng, yêu hơn mạng sống của chính mình. Đất đai quê hương đối với dân tộc Việt không phải là mảnh đất để trục lợi mưu sinh mà chính là nơi cư ngụ yêu dấu vô cùng, nối kết tình cảm hiện tại với quá khứ và tương lai. Đất nước ta là của ta, tuyệt đối của dân ta, xương máu ông cha ta đã thấm nhuần ở đấy, không thể nhường cho ai được hết. Mạng sống có thể nhường, đất nước tuyệt đối không. Quyền lợi có thể nhường, đất nước tuyệt đối không vì đất nước đã gắn liền vào huyết mạch của giống nòi.

    "Nghìn muôn ức triệu người chung hiệp

    Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà

    Người dân ta, nước dân ta

    Dân là dân nước, nước là nước dân”

    Đọc mấy câu ấy thì nghĩa hai chữ quốc dân đã rõ lắm 

    Anh em ta thử nghĩ: Trên dưới bốn ngàn năm, trong ngoài ba mươi vạn dặm, biết bao dây máu hột mủ, tuôn đổ ra cung cấp cho nước đó, có một giọt nào không phải của dân ta đâu? Biết bao lũ trước đàn sau, dắt dìu nhau mà kinh dinh cho nước đó, có một người nào mà không phải dân ta đâu! Vì vậy, nếu không dân thì ai làm nên nước, nếu không nước thì quý gì dân. Linh hồn nước là đâu? Chắc là dân đó!

    Khu xác dân ở đâu? Chắc là nước đó

    Quốc tức dân, dân tức quốc. Hai chữ quốc dân không thể rời nhau được. Nghĩa hai chữ quốc dân là thế"

    (PHAN BỘI CHÂU - Cao Đẳng Quốc Dân)

    Đảng ta xây dựng trên nền tảng dân tộc, nên danh xưng Việt Nam Quốc Dân Đảng.


    KINH ĐỘC LẬP


    PHEN NÀY CẮT TÓC ĐI TU

    ĐỌC KINH ĐỘC LẬP Ở CHÙA DUY TÂN

    NGÀY ĐÊM TỤNG NIỆM CHUYÊN CẦN

    CẦU CHO ÍCH QUỐC LỢI DÂN MỚI LÀ

    TU SAO MỞ TRÍ DÂN NHÀ

    TU SAO ĐỘ ĐƯỢC NƯỚC TA PHÚ CƯỜNG

    LÒNG THÀNH THẮP MỘT TUẦN HƯƠNG

    NAM MÔ PHẬT TỔ HỒNG BÀNG CHỨNG MINH

    TU HÀNH MỘT DẠ ĐINH NINH

    SỚM KHUYA GIÁM QUẢN CÔNG TRÌNH MỘT HAI

    LÒNG TÔI MONG ĐỨNG MONG NGỒI

    MONG SAO CHO ĐƯỢC GIỐNG NÒI VẺ VANG


    TRẦN CAO VÂN 

    Tác giả Trần Cao Vân là một anh hùng kháng Pháp cứu nước, khởi xướng phong trào Duy Tân, là một người hoạt động chặt chẽ với Đảng trưởng Danh Dự. Dù tuẫn quốc trước khi Đảng trưởng Danh Dự thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Trung Quốc, ông quả đúng là một đồng chí tiên liệt. Nay mộ chí đã được nói về đất hậu tự thuộc đền thờ Phan Bội Châu và các liệt sĩ tiền bối ở Bến Ngự. Bài Kinh Độc lập của ông đã nói lên tinh thần độc lập của Chủ nghĩa Dân tộc Độc lập mà Đảng ta đề xướng.


    IV. LÒNG YÊU NƯỚC


    Tình yêu nước gắn liền với nhân phẩm của người dân Việt Nam. Tội phản quốc, gọi là Việt gian, là một trong những tội bị người Việt khinh bỉ nhất và không bao giờ tha thứ. Đảng trưởng cùng các Tiên Liệt thành lập Đảng đã tuyên bố lời tâm huyết: Việt Nam Quốc Dân Đảng là đảng của những người Việt Nam yêu nước". 

    Khi bước lên đài tuẫn quốc, Đảng trưởng cùng mười hai đồng chí Tiên Liệt đã hô to khẩu hiệu "Việt Nam Vạn Tuế" (nghĩa là Việt Nam muôn năm). Lời hô ấy cho thấy rõ tinh thần Đảng là hiến dâng hy sinh cho nước nhằm mục đích xây dựng hạnh phúc cho đồng bào. Thật khác hẳn với những kẻ mưu đồ danh lợi, chủ trương đảng trị, đặt đảng trên nước, quên ơn non nước, quên nghĩa đồng bào.

    Đảng trưởng Danh Dự đã từng giảng dạy rằng phải đem lòng nhiệt thành mà yêu nước thương nòi: 

    "Có đầy đủ một tấm nhiệt thành mới trọn vẹn mười phần ái quốc. Thành mà không nhiệt thì kém phần nóng sốt, mà cái thành đó dễ nguội; nhiệt mà không thành thì kém sức vững bền, mà cái nhiệt đó dễ lạnh. Đã thành lại nhiệt, đã nhiệt lại thành, thời thần quỷ phải kinh, mưa gió chông gai cũng phải dẹp, chỉ có ai sợ ta, mà ta không phải sợ ai, chỉ có ai ỷ lại vào ta mà ta không ỷ lại vào ai.

    Đã biết trước là mẹ, thì dầu hy sinh ta với nước mà ta không quản. Trong óc chỉ có nước, ngoài việc nước ta không màng gì lợi, ta không thiết gì danh. Nhiệt thành thế này mới là ái quốc. Ái quốc thế này mới hay cứu nước. 

    Ruột tắm máu quốc thề sống thác với non sông, dạ sắt lòng son chẳng lụi sờn vì mưa nắng".

    (PHAN BỘI CHÂU- Cao Đẳng Quốc Dân)

    Đảng trưởng Danh dự định nghĩa ái quốc một cách minh bạch, đầy đủ để các đồng chí ta hiểu thấu đáo ý nghĩa và giá trị của lòng yêu nước:


    ĐỊNH NGHĨA ÁI QUỐC


    Dòng giống Tiên Rồng, máu da hoàng Hán

    Chôn rau cắt rốn, ở đất nước nhà

    Nước là mẹ ta, ta là con nước

    Thân con có phước, nhờ mẹ lâu dài

    Mẹ mất con côi, còn gì thân thế

    Cuộc đời dâu bể, trời cướp mẹ mình

    Hồn mẹ lênh đênh, nỗi con chua xót

    Nào người tâm huyết, máu chảy ruột mềm

    Quên mẹ sao nên, phải thương đến nước

    Song le ái quốc, há phải nói không

    Ái cốt ở tâm, ái không ở miệng

    Những người ái miệng, bán tiếng mua danh

    Dối người dối mình, trộm nhân trộm nghĩa

    Ái mà ái thế, không ái còn hơn

    Hại cả toàn quần, thương gì đến nước

    Những người ái quốc, xin ái thiệt thà

    Quên mình quên nhà, chỉ biết có nước

    Góp giọt thành sông, chất hòn nên núi

    Nhiều tay xúm lại, cơ nghiệp nước mình

    Mừng mẹ tái sinh, thỏa lòng con cái

    Thề cùng sông núi, giữ tấm lòng ngay

    Ái quốc ái dân, thiên vàn ghi tạc


    PHAN BỘI CHÂU


    Đảng trưởng Danh dự phát động phong trào Đông Du, đưa thanh niên xuất dương qua Nhật du học để đào tạo những cán bộ trẻ ái quốc mà có đủ nhãn quan tân học, nhằm mục đích cứu nước một cách hữu hiệu. Trong giai đoạn này, phong trào đã đưa ra bài ca dao "Ru Con" có ý nghĩa rất hàm xúc và thích ứng với hoàn cảnh dân nước ta thời đó. Đến nay, trước hoàn cảnh lịch sử hiện tại vẫn có giá trị lớn lao như một nhu cầu thiết yếu để cứu nước.


    RU CON


    Con ơi nghe mẹ lời này

    Muốn khôn thì phải tìm thầy học nên

    Sao cho nợ trả nghĩa đền

    Để yên việc nước kẻo phiền mẹ cha

    Làm trai yêu nước quên nhà

    Nước kia có vẹn thì nhà mới xong

    Có câu tạo thế anh hùng

    Văn minh hai chữ đọ cùng năm châu

    Lòng mẹ luống những âu sầu

    Sầu vì một nỗi bấy lâu ngu hèn

    Mẹ có tham chẳng tham tiền

    Tham vì một nỗi đua chen với đời

    Khuyên con có bấy nhiêu lời


    V. NGHĨA ĐỒNG BÀO


    Quốc Dân ta gọi nhau là đồng bào, vì ta cùng nguồn gốc Tiên Rồng, cùng chung một quốc tộc Hồng Bàng. Từ đời này đến đời khác, hơn bốn ngàn năm liên tục, người Việt cùng nhau truyền tụng như vậy, nên niềm tin tưởng rất vững bền. Niềm tin của chúng ta quả thực đã có giá trị thiết thực. Vóc dáng, nét mặt, ngôn ngữ, cá tính, ý hướng tính, phong tục tập quán, y phục của dân tộc ta khác hẳn với người ngoại quốc, kể cả người láng giềng lâu đời là Trung Hoa. Ta nhận biết sự dị biệt với ngoại nhân và sự đồng nhất giữa đồng bào. 

    Nhận thức đó đã đưa tới cuộc sống thực tế xây dựng bằng tình tự đoàn kết, đùm bọc, che chở và thương yêu đến độ hy sinh cho nhau. Lịch sử bảo chủng hơn bốn ngàn năm đã là một chứng minh vững vàng, đúng đắn không thể phủ nhận.

    Việt Nam Quốc Dân Đảng là đảng của những người Việt Nam yêu nước Việt Nam, thương người Việt Nam. Biết bao đồng chí đã hy sinh tính mạng hiến dâng cho nghĩa đồng bào, tình dân tộc. 

    Chung một quốc tộc, cùng dòng máu nên tình đoàn kết của dân tộc ta vô cùng thắm thiết vững bền. Tình đoàn kết ấy đã tạo thành sức mạnh vượt thắng mọi khó khăn nguy hiểm, cứu dân tộc qua những cơn khốn cùng. Tục ngữ có câu: "Có máu có xót", dân gian thường nói:"Giọt máu đào hơn ao nước lã".

    Một số cường quốc về văn minh cơ giới, vì quyền lợi của một nhóm tư bản tài phiệt, muốn mở mang thị trường, đã dày xéo lên nhân tình, đem sức mạnh vũ khí đi xâm lược các nước yếu. Che dấu dã tâm của họ để đánh lừa lương tâm nhân loại. Họ tự đeo lên mặt nạ thế giới chủ nghĩa với những khẩu hiệu chiến lược: "Reo rắc văn minh", "Khai quang văn hóa", "giai cấp đấu tranh ". Thực tế, gót giầy họ đạp tới đâu thì tai ương tới đó. Nước ta, dân ta, lâm vào cảnh ngộ này.

    Trước cảnh ngộ bi đát của dân tộc, Đảng trưởng Danh dự thức tỉnh nghĩa đồng bào qua lời kêu gọi:"Cần phải kêu gọi tinh thần hợp nhất, cần phải có sự đồng tâm. Muôn ngàn người như một, cùng một mục đích, cùng một thủ đoạn thì việc làm mới mong có ngày thành tựu được.

    “Lao tư hỗ trợ” ở nước ta chưa có sự phân biệt rõ ràng của hai giai cấp này. Tuy hạng chủ cũng không nên dùng chính sách bóc lột đối với hạng thợ thuyền và hạng này cũng không nên gây thù kết oán với hạng kia. Phải tương tư tương trợ để bồi bổ cho cái nền tảng của quốc gia đứng vững đã.

    Hô hào giai cấp đấu tranh ở xứ này là một việc cực ngu! Những người thức thời không bao giờ làm như thế. Thế nào là "Tư Bản"? Một người có năm, mười mẫu ruộng, một anh chủ tiệm may gọi là tư bản ư? Cứ xem bảng tổng kê ở các nước khác, thì đã có người Việt Nam nào đáng gọi là tư bản chưa? Tôi đã nói ở nước này chưa có sự phân biệt rõ ràng của hai giai cấp tư bản và lao động: người Việt Nam chúng ta đều là hạng người mất quyền, hạng người mất nước cả. Cùng một tai nạn, đã không chung sức để tùy theo cảnh ngộ mà lần hồi thu phục lại những quyền đã mất để gây dựng lại nền tảng quốc gia, lại còn đi kiếm cách tương tàn tương phấn, làm giảm lực lượng tranh đấu, thật là một điều thất sách!

    Tóm lại là người ta lợi dụng phong trào xã hội để chia rẽ lực lượng trong nước, để phá hủy sự đoàn kết và để làm tiêu diệt tinh thần quốc gia của dân ta".

    PHAN BỘI CHÂU

    (Đã cho báo Tràng An đăng ngày 7 tháng 10 năm 1938)


    Rút kinh nghiệm trong quá khứ hơn bốn ngàn năm đã từng vãn hồi nền độc lập trước tình trạng nguy vong, Việt Nam Quốc Dân Đảng vạch ra một phương thức hữu hiệu và áp dụng thực hành một cách không khó khăn. Đó là tạo sức mạnh đoàn kết dân tộc bằng cách chấn hưng tình gia tộc. Gia tộc mạnh thì quốc tộc mạnh. Quốc tộc mạnh thì nước mạnh. Nước mạnh thì dân được cư ngụ một cách tự do độc lập trên lãnh thổ quê hương với tương quan tình nghĩa đồng bào.


    GIẢI ĐỒNG TÂM

    TÂM ĐỒNG NHAU THỜI NHƯỢC HÓA NÊN CƯỜNG, TÂM CHẲNG ĐỒNG THỜI CƯỜNG HÓA NÊN NHƯỢC, VÌ SAO THẾ? LÒNG KHÁC NHAU THỜI BẦY RẼ, BẦY RẼ THÌ MẠNH HÓA NÊN HÈN, LÒNG ĐỒNG NHAU THÌ BẦY CHUNG, BẦY CHUNG THÌ HÈN HÓA NÊN MẠNH, VẬY NÊN HAI CHỮ "ĐỒNG TÂM" ĐÓ LÀ PHƯƠNG THUỐC HIỆP QUẦN RẤT THIÊNG LIÊNG, RẤT ỨNG NGHIỆM.

    TUY NHIÊN, CÓ KẺ NÓI RẰNG: "ĐÔNG NGƯỜI THÌ TẤT PHẢI NHIỀU BỤNG. NHIỀU BỤNG THÌ KHÔNG THỂ NÀO ĐỒNG LÒNG. CÁI SỰ ĐỒNG TÂM ĐÓ THIỆT LÀ KHÓ KHĂN LẮM"

    ÔI! CÁC ANH EM! ÔI CÁC CHỊ EM! CÂU NÓI ẤY THIỆT QUÁ NGU RỒI ĐÓ! XƯA NAY ĐỒNG LÒNG, KHÔNG ĐỒNG LÒNG, CHỈ VÌ CÓ MỘT CỚ: CHỦNG TỘC KHÔNG ĐỒNG, NGÔN NGỮ KHÔNG ĐỒNG, TẬP TỤC KHÔNG ĐỒNG, THẾ MÀ MUỐN ĐỒNG LÒNG THỜI KHÓ LẮM. ĐẾN NHƯ NGƯỜI NƯỚC TA, NÒI GIỐNG VẪN ĐỒNG VỚI NHAU, NGÔN NGỮ VẪN ĐỒNG VỚI NHAU, TẬP TỤC VẪN ĐỒNG VỚI NHAU MÀ HUỐNG GÌ LỐI TỬ SINH ĐƯỜNG VINH NHỤC LẠI KHÔNG ĐỒNG VỚI NHAU, CHIM Ở CHUNG MỘT RỪNG, CÁ Ở CHUNG MỘT BỂ, NẾU CHẲNG MAY BỂ KHÔ RỪNG CHÁY, THỜI MỘT CÁI LÔNG, MỘT TẤM VẢY, CÒN MONG SỐNG SÓT ĐƯỢC HAY SAO?

    MAY GẶP LÚC BÂY GIỜ RỪNG HÃY CÒN CÂY, BỂ HÃY CÒN NƯỚC, KẾT HỢP CẢ BẦY, ĐỒNG MỘT LÒNG, CHUNG MỘT DẠ, TÍNH 

    ĐƯỜNG ĐI ĐỨNG, LỰA BƯỚC CHEN LUI, DẮT NHAU RA KHỎI NGỤC TRẦM LUÂN, RỬA VẾT NHƠ TRONG PHO SỬ CŨ, MÀ THAY LẤY VẺ VINH QUANG, BIẾT BAO NHIÊU CÔNG NGHIỆP LỚN LAO, CHỈ Ở TRONG MỘT GỐC LÒNG ANH EM, CHỊ EM NÊN TẤT CẢ.

    VẬY THỜI GIẢI "ĐỒNG TÂM" ĐÓ THIỆT LÀ PHƯƠNG THUỐC CẢI TỬ HỒI SINH CỦA CHÚNG TA, KHÔNG GÌ HƠN NỮA"

    PHAN BỘI CHÂU


    VI. ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC


    Đạo đức là gì và tại sao con người phải có đạo đức? Đó là một vấn đề mà các nhà hiền triết, các bậc thánh nhân đã đưa ra những định nghĩa, những giải đáp bao hàm nhiều dị đồng. Tất cả những khuynh hướng khác nhau, chưa khuynh hướng nào thỏa mãn được óc cầu tri.

    Thân phận con người thật là quái lạ, trí tuệ con người đã khám phá và nhận biết ngoại giới một cách sâu xa lớn rộng, nhưng chính con người đối với con người vẫn còn là một khu rừng bí mật, một thế giới bao la với nhiều xa lạ. Gần gũi quen thuộc nhất với con người, chính là con người, mà xa lạ khó hiểu nhất lại cũng chính là con người. 

    Tại sao lại có con người trong vũ trụ này? Có để làm gì? Địa vị con người trong vũ trụ như thế nào? Tại sao đời người lại hữu hạn trăm năm? Sau khi chết, còn hay mất? Nếu còn thì đi về đâu? Đó là mối sầu thiên cổ của kiếp nhân sinh. Các tôn giáo giải thoát tâm linh đã đến với loài người, nhưng vẫn không tạo được niềm tin cho toàn thể thế nhân. Kẻ bi quan trở nên yếm thế. Lòng họ quá yêu cái "Thực" mà tìm không thấy nên mới chán đời. Như vậy nơi đáy lòng họ đã có một tình yêu to tát.

    Dù vậy, con người vẫn ăn, vẫn thở, vẫn sống chung đụng quây quần với nhau thành từng xã hội, từng quốc gia. Yếu tính làm người tương đồng mà mỗi dân tộc, mỗi xã hội, mỗi giống nòi đều có cá tính đặc thù riêng biệt với tình với dục thúc đẩy cuộc nhân sinh.

    Vì nhân sinh thành xã hội mà nhân tính phát huy thành đạo đức. Đạo đức chính là ý nghĩa và giá trị của con người ở đời. Không đạo đức là không phát huy nhân tính, con người như thế không có ý nghĩa và giá trị làm người. 

    Người dấn thân nhập thế có mẹ có cha, người xuất thế, kẻ tỵ nhân cũng có mẹ có cha. Có cha mẹ thì có ông bà, tổ tiên, bà con, thân thuộc. Không ai từ vách đá nẻ ra rồi sống đơn độc một mình.

    "Người ta có tổ có tông

    Như cây có gốc như sông có nguồn"

    Con người sinh ra ai cũng là người, vậy mà ai cũng cố gắng trở nên người. Cố gắng bằng cách nào? Bằng cách phát huy nhân tính, sống theo đạo đức. Ngược lại sẽ chẳng thành người, mà thành ngợm.

    Xét trong lịch sử nhân loại, chưa có triều đại vô đạo nào mà không diệt vong, chưa có xã hội vô đạo nào mà có thể sinh tồn trường cửu.

    Dân tộc Việt ta sở dĩ sinh tồn trường cửu, cho dù đã từng phen phải sống trong cảnh ngộ vô cùng khắc nghiệt đau thương ta vẫn sinh tồn, chính vì ta có một nền đạo đức nhân bản rất cao cả. Tối đại đa số người Việt Nam ý thức bản tính làm người là thiện. Đem thiện tâm cư xử với nhau nên hành vi xử thế tiếp vật của ta xây dựnng trên nền tảng nhân ái. 

    "Thức khuya mới biết đêm dài

    Sống lâu mới biết dạ người có nhân"

    Để phát huy và thực hành lòng nhân ấy cho được hữu hiệu, phải có khuôn vàng thước ngọc, đối với bản thân, đối với gia đình, đối với đồng bào, đối với tổ quốc, đối với nhân lại. Trong vòng trời đất, nhân loại hiện hữu cùng với muôn loài. Mỗi lòai có một yếu tính khác biệt với loài khác. Cầm có yếu tính của cầm, thú có yếu tính của thú. Yếu tính của người gọi là tính nguời hay nhân tính. Đặc điểm của con người là biết nỗ lực phát huy nhân tính trên căn bản thiện. Nhân tính càng phát huy, công trình thiện hảo càng lớn lao. Ý nghĩa ở đấy, giá trị ở đấy. Cái công trình phát huy nhân tính ấy chính là đạo đức. Đó là sống thuận với lẽ phải, lẽ tự nhiên của trời đất ban cho, nhân tính thiết yếu là Ngũ Thường hoặc Năm Hằng: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

    Định nghĩa một cách tổng cương: Nhân là trắc ẩn, yêu thương; Nghĩa là điều đúng, lẽ phải; Lễ là trật tự; Trí là phán đoán nhận định đúng sai; Tín là lòng thành khẩn, chân thực, không gian trá đảo điên.

    Năm đức tính cần và đủ này không thể thiếu một trong bản chất loài người. Đã là người, không ai tuyệt đối không có tình cảm yêu thương. Kẻ tán tận lương tâm, thù ghét tất cả thế gian rất là hi hữu trong xã hội nhân quần. Nhiều, ít khác nhau, ai ai cũng có tấm lòng nhân ái. Đã là người không ai là kẻ có ý hướng chỉ chọn điều sai, chối điều đúng. Trong cách xử thế tiếp vật, trong tương quan với tha nhân, nếu không có trật tự thì tất cả trở thành rối loạn. Không có óc phán đoán không thể phân biệt đúng sai. Không tín nghĩa, tương quan giữa người với người sẽ đổ vỡ, xã hội sẽ rối loạn vì người gian dối và nghi kỵ lẫn nhau.

    Bổn phận cá nhân đối với chính mình trong truyền thống dân tộc Việt Nam là phải tu tâm dưỡng tính bằng cách gìn giữ năm điều Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Càng giữ được nhiều, nhân phẩm càng cao; nhân phẩm càng cao nhân cách càng giá trị.

    Đem Ngũ Thường thờ cha kính mẹ là đạo Hiếu, cư xử với anh em là Đễ. Trong tương quan vợ chồng, Ngũ Thường đem lại hòa thuận êm ấm, con cái được hưởng công ôn dưỡng dục cù lao. Đối với đồng bào, Ngũ Thường phát huy đã làm cho nước nhà trở thành một đại gia đình trong đo quốc dân được tổ chức một cách có trật tự, công bình và nhân ái.


    Nền tảng đạo đức truyền thống đó quả thực đã được thể hiện trong xã hội Việt Nam, tuy chưa hoàn toàn trọn vẹn như mong muốn, nhưng đã có giá trị cụ thể đáng chiêm quan:

    1. Nam nữ bình quyền, phân công minh bạch

    "Trai mà chi, gái mà chi

    Đứa nào có nghĩa, có nghì thì hơn"


    2. Đồng bào trong nước có những tông tộc khác nhau: Đinh, Lê, Lý, Trần, Phạm, Đỗ, Võ, Hà... nhưng không có họ nào là quý tộc, họ nào là bình dân, lại càng không có họ nào là chủ, họ nào là nô. Tất cả đều chung một cội nguồn Hồng Bàng, đều là dòng dõi Tiên Rồng. Con người quý tiện khác nhau do nhân phẩm cao thấp khác nhau chứ không do nơi dòng họ.


    3. Sinh hoạt xã hội được tổ chức bình đẳng không chia thành giai cấp. Xưa kia ta có bốn ngành Sĩ, Nông, Công, Thương mà một người có thể kiêm nghiệm các ngành khác nhau. Các ngành ấy có giá trị và địa vị tương đồng. Đến triều Nguyễn, vua Tự Đức chìm đắm trong từ chương, triều đình bất công trọng Sĩ hơn các ngành khác, dân gian đã phản ứng lại một cách chính đáng để đòi sự công bằng xã hội:

    "Nhất Sĩ nhì Nông

    Hết gạo chạy rông

    Nhất Nông nhì Sĩ"


    4. Với các sắc tộc khác, sống cùng trên mảnh đất quê hương, người Việt cũng đem tình đồng bào mà cư xử:

    "Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"


    5. Nền đạo đức nhân bản đã tạo cho người Việt Nam có đức tính yêu chuộng hòa bình, trọng điều công chính. Vì đức tính này mà các dân tộc thiểu số đã sinh tồn yên ổn, cùng ta chia ngọt sẻ bùi, đắng cay qua những thăng trầm của lịch sử. Không những vậy, đối với các lân bang tiểu quốc, dân tộc ta đã không dùng bạo lực xâm lăng lãnh thổ, đàn áp dân tình. Ta đã đem tình lân lý mà đối xử với họ. Bằng chứng hiển nhiên là nước Lào, một nước láng giềng có diện tích lớn ngang Bắc Việt và Trung Việt, dân số không bằng dân số một tỉnh lớn của ta, nếu dân Việt Nam tham tàn thì địa lý quốc gia này đã bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới. 

    Về trường hợp Chiêm Thành, quả có sự kiện là xóa bản đồ nước Chiêm, nhưng không phải là tổ tiên ta đã dùng bạo lực xâm lăng tiêu diệt một dân tộc láng giềng. Chiêm Thành chỉ là một đạo binh viễn chinh mang đủ sắc thái Ấn độ với tôn giáo thờ thần linh Ấn, với văn tự Ấn, với ngôn ngữ Ấn, đến sống chen lẫn với các nhóm dân ta ở những vùng đất cực nam của lãnh thổ nước ta, xưng lập quốc gia riêng.

    Vốn là đạo binh viễn chinh hiếu chiến, hằng năm, thuận gió mùa là quân Chiêm Thành tiến chiếm Tây Đô Nghệ An của ta. Chủ trương xâm lăng của họ liên tục được nỗ lực qua nhiều thế hệ. Chính họ đã ép buộc ta vào tình trạng phải chiến đấu để sinh tồn. Cuộc chiến kéo dài và dữ dội đưa đạo binh viễn chinh này đến tình trạng tiêu diệt.


    6. Trong nền đạo đức dân tộc Việt Nam, đặc biệt ơn nhà, nợ nước, nghĩa đồng bào là ba món nợ giá trị thiêng liêng mà mọi người dân thiết yếu có bổn phận báo đền. Mức độ báo đền xác định địa vị cao thấp của phẩm cách làm người trong xã hội, tạo thành thuần phong mỹ tục, hun đúc cá tính dân tộc với tình yêu nhà, yêu nước, yêu đồng bào một cách mãnh liệt thiết tha. Tiềm lực dân tộc bắt nguồn từ đấy, khả năng sinh tồn nẩy sinh từ đấy, dường bảo chủng lẽ hợp quần cũng từ đấy mà phát huy, đưa dân tộc vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt tàn khốc trong lịch sử.


    VIỆT NAM QUỐC DÂN CHỦ NGHĨA


    DÂN QUYỀN TỰ DO

    I- DÂN QUYỀN

    II- TỰ DO

    III- BÌNH ĐẲNG

    IV- DÂN CHỦ


    "Núi nọ sông này, ruộng kia ao nọ

    Dây máu hạt mủ, gốc của dân ta

    Dân vẫn chủ nhà, không quyền sao đặng?

    Anh em xin gắng, giật lại quyền dân"

    PHAN BỘI CHÂU


    1. DÂN QUYỀN


    "Được gọi là một nước thì phải có nhân dân, có đất đai, có chủ quyền. Thiếu một trong ba cái ấy đều không đủ tư cách làm một nước. Trong ba cái đó thì nhân dân là quan trọng nhất. Không có nhân dân thì đất đai không thể còn, chủ quyền không thể lập; nhân dân còn thì nước còn; nhân dân mất thì nước mất. Muốn biết nhân dân còn mất như thế nào thì phải xem cái quyền của nhân dân còn mất như thế nào. Dân quyền mà được đề cao thì nhân dân được tôn trọng, mà nước cũng mạnh. Dân quyền bị xem nhẹ, thì dân bị coi khinh mà nước yếu. Dân quyền hoàn toàn mất thì dân mất mà nước cũng mất. Dân mất tức là có dân cũng như "không có dân vậy" (PHAN BỘI CHÂU - Việt Nam Quốc Sử Khảo).

    Nhân sinh tiến hóa, lịch sử biến thiên, hoàn cảnh sống thích ứng đổi thay, cơ cấu tổ chức xã hội nhân quần đương nhiên phải có nhiều cải cách.

    Tiến hóa càng cao, nhu cầu càng nhiều, cuộc sống càng phức tạp, nếu tổ chức xã hội cơ cấu không kịp thời đáp ứng, chắc chắn rối loạn sẽ nẩy sinh, con người bị chìm đắm trong đau thương bi đát. Vậy nên, ở phương Đông tự ngàn xưa chủ trương cách mạng xã hội được đặt vào minh triết. 

    Cách mạng là công trình đổi mới nhằm mục đích làm cho con người được sống đời hạnh phúc. Thành quả của cách mạng là đem lại hạnh phúc đích thực cho con người trong xã hội. Những cuộc đổi thay không làm thăng tiến hạnh phúc nhân sinh chỉ là những biến cố chính trị, không phải là cách mạng. 

    Những chính biến làm suy thoái hạnh phúc nhân sinh trong xã hội gọi là phản cách mạng. Nhìn vào lịch sử nước nhà, hơn bốn ngàn năm đế chế, các triều đại nối tiếp nhau quản trị quốc dân, bảo chủng giữ nước được đến ngày nay, công trình thật là vĩ đại. Các bậc minh quân, các vị anh hùng dân tộc được giống nòi Tiên Rồng đời đời ghi tâm khắc cốt công ơn, dân gian truyền tụng tôn thờ làm tổ quốc.

    Hiển nhiên rằng tổ quốc ta không phải chỉ là kết tụ anh linh của những bậc tên tuổi sáng ngời trong lịch sử mà thôi. Tổ quốc uy linh còn gồm có vô vàn anh hùng vô danh, vô vàn người dân hiền lương, xây dựng gia đình, yêu làng thương xóm, cần mẫn cầy sâu cuốc bẫm, phá rẫy khai rừng, giữ gìn quốc túy, phát huy phong hỏa nhân luân. Trái tim, bộ óc, giọt mồ hôi, dòng máu thắm của toàn thể quốc dân cùng nhau đóng góp, biết bao thế hệ công lao mới làm nên nước non này cho người Việt Nam, giống Rồng Tiên cư ngụ.


    Về "Nghĩa Vụ Đối Với Nước" Đảng trưởng Danh dự đã viết: 


    "Góp nghìn muôn nhà mới gây nên nước 

    Nước có quyền nước mới giữ được nhà

    Nước tức là nhà, nhà tức là nước 

    Vậy nên nhà nước, hai chữ gắn liền 

    Nước là nhà to, nhà là nước nhỏ

    Cơ đồ tiên tổ, thành quách non sông 

    Xương trắng máu hồng, gây nên gấm vóc 

    Con Hồng cháu Lạc, nối nghiệp đời đời

    Ruộng ta ta cầy, rẫy ta ta mở

    Nhà ta ta ở, của ta ta ăn

    Ta là quốc dân, nghĩa chung thờ nước

    Mất còn sống thác, cùng nước thủy chung"


    Nước do quốc dân tạo thành. Vậy, nước phải là của chung của toàn thể quốc dân. Nước không của riêng ai. Nước không phải là tư hữu của vua. Nước không thể là tư hữu của cá nhân một vị anh hùng hào kiệt trong lịch sử. Xưa kia, dù dưới chế độ quân chủ, truyền thống dân tộc đã luôn luôn quan niệm rằng triều đình là cơ quan trung ương điều hành công cuộc thể hiện hạnh phúc cho toàn dân. Nếu nhà vua vì tư lợi, hành xử ngược nguyện vọng của nhân dân, thì tuy danh ở ngôi vua mà thực chính là hôn quân bạo chúa. Ai ai cũng có trách nhiệm đánh đổ hôn quân. 

    "Người xưa có câu: Vương dã, dĩ dân vi thiên, nghĩ là dầu ông vua cũng phải xem dân bằng trời vậy" (Phan Bội Châu - Cao Đẳng Quốc Dân).

    Thành ngữ ta cũng có câu: "Ngược lòng dân, trái ý trời". Như vậy, địa vị quốc dân tự xưa đã có giá trị rất cao lớn.

    Địa vị quốc dân trong truyền thông Việt Nam từ ngàn xưa không phải chỉ có giá trị hư hão, không thực chất. Địa vị ấy đã có giá trị đích thực được thể hiện qua dân quyền trong tổ chức quốc gia: chế độ hương thôn tự trị. "Phép vua thua lệ làng" là một câu tục ngữ quen thuộc, là một khẩu luật dân ước được triệt để áp dụng. Những gì đã thành lệ làng được dân làng duy trì, triều đình không được can thiệp. Các làng dù có những lệ khác nhau, nhưng tất cả đều được tổ chức dưới hình thức:

    1. Làng nào cũng có một ban quản trị với những hương ước thành lệ, có tính cách độc lập, được nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo vệ vì những lệ làng hợp với lẽ sống tình người.

    2. Mỗi làng đều có động sản và bất động sản riêng, được quyền chi dụng thích ứng với nhu cầu của làng.

    3. Mỗi làng đều có đình làng với những tập tục riêng 

    4. Mỗi làng đều có trương tuần với tuần đinh để giữ gìn an ninh


    VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG VỚI CÁCH MẠNG DÂN QUYỀN 


    Lịch sử là một dòng liên tục, nối kết bằng những thời đại khác nhau. Trong các giai đoạn dựng nước, giữ nước để bảo chủng, yếu tính truyền thống của dân tộc đã tạo nên một quốc túy đặc thù nhưng hoàn cảnh nhân sinh trong xã hội bao giờ cũng có những biến thiên. Có tiến bộ, có đổi mới thì ắt phải có những biến thiên.

    Lịch sử ta bước sang thế kỷ 20, đối phó với cảnh ngộ bi đát của nước nhà, đối phó với thân phận lầm than của đồng bào, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định phát khởi một cuộc cách mạng toàn diện:

    Đối ngoại, chủ trương hòa hợ bình đẳng, cương quyết chiến đấu phá áp bức xâm lăng.

    Đối nội, chủ trương chấm dứt quân quyền, phát huy Chủ Nghĩa Dân Quyền, xây dựng một xã hội tự do dân chủ thực sự.

    Chủ nghĩa Dân Quyền của Đảng ta chính là một chủ nghĩa phát sinh từ nền văn hóa nhân bản truyền thống của dân tộc, hòa hợp với lẽ sống tình người, cập nhật hóa theo ý chí của dân tộc để cứu nước thoát cơn nguy vong, cứu giống nòi khỏi ách lầm than thống khổ. Chỉ có quốc dân ta mới cứu được giống nòi ta. Dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của chính mình, không nương nhờ ai, không trông cậy ai.

    "Thân ta dựng, chẳng nương cậy người. Không phiên lụy ai, không ai đè nén"

    (PHAN BỘI CHÂU - Nghĩa hai chữ Độc Lập)


    1. TỰ DO

    Lịch sử tôn giáo cũng như lịch sử triết học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về yếu tính làm người.

    Những công trình khảo đính thực nghiệm đã đem lại nhiều khám phá mà thành quả đáng tin cậy, những đến nay vẫn chưa có giải đáp triệt để về yếu tính nhân sinh. 

    Xã hội nhân quần, tùy theo chủng tộc, tùy theo địa phương mà có những sinh hoạt mưu sinh với những sắc thái đặc thù, tạo thành những nền văn hóa khác nhau. Từ đó, đưa tới những giải đáp về yếu tính nhân bản khác nhau.

    Dân tộc Việt Nam vốn từ xưa tin tưởng yếu tính nền tảng của con người là thiện. Niềm tin này đã tạo thành một nền tảng văn hóa nhân bản, yếu tính là thiện hảo. Từ văn chương dân gian, văn chương bác học, từ tôn giáo đến triết lý nhân sinh đều lấy thiện làm gốc.

    Triết lý đạo đức dân tộc quan niệm rằng tâm nguyên thủy của con người là thiện. Đó là tính làm người. Trên nền tảng yếu tính căn bản này, mọi người đều bình đẳng như nhau. 


    Ý NIỆM TỰ DO


    Trên lãnh vực đạo đức tâm linh, thể hiện và phát huy nhân tính thiện là quyền tự do của con người. Đã là người, ai cũng có quyền tự do ấy. Tự do ở trên lãnh vực này là tự do trọn vẹn, hoàn toàn thuộc quyền của chủ thể và không có giới hạn. Càng phát huy thiện hảo càng tốt, phát huy rộng lớn bao nhiêu vẫn là chưa đủ. Mọi hành vi hạn chế thiện hảo đều là sai lầm, là tà, là ác, là ngược nhân tính. Không thể có luật nào, không thể có lệ nào, dù thành văn, dù bất thành văn có thể ấn định giới hạn cho thiện hảo. 

    Tự do thể hiện thiện hảo hay tự do phát huy nhân tính là một thứ tự do vô cùng, vô cực, một thứ tự do đúng nghĩa.

    Nghịch nhân tính là ác. Nói như thế có nghĩa là tất cả những gì là ác đều không thuộc vào bản tính làm người- theo quan niệm sống của Việt Nam. Khi một chủ thể có hành vi ác, bị đạo đức ngăn ngừa, không có nghĩa là đạo đức đã bị tước đoạt hoặc hạn chế tự do, mà chính là đạo đức đã bảo vệ tự do làm người, ngăn ngừa xấu ác xâm lăng nhân tính. Quan niệm truyền thống này của dân tộc được hàm chức trong thuần phong mỹ tục cũng như trong văn học nhân gian, thành trì kiên cố của văn hóa Rồng Tiên.


    TRUYỀN THỐNG YÊU CHUỘNG TỰ DO 


    Lịch sử bốn ngàn năm bảo chủng và sinh tồn của giòng giống Việt gắn liền với công trình chiến đấu và nỗ lực bảo vệ tự do. 

    Sử tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân đời Hùng Vương thứ sáu chứng tỏ lòng yêu độc lập, tự do của dân tộc đã trưởng thành từ thủa ban sơ lập quốc.

    Theo Việt Sử Thông Giám Cương Mục, năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng tụ tập năm trăm ngàn dân lưu vong làm lính, sai hiệu úy Đồ Thư làm tướng, Sử Lộc đào lạch tải lương tiến vào Lĩnh Nam, cướp được đất Lục Lương, chia thành Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Người Việt rút vào rừng sâu, kháng chiến bốn năm, đến năm 214 trước Công nguyên đã đuổi được quân Tần.

    Sử ký Tư Mã Thiên của Trung Hoa có ghi: "Tần Thủy Hoàng sai Giám Lộc đào sông nhỏ, tải lương thực để tiến quân vào đất Việt. Người Việt ẩn vào rừng mà chiến đấu. Quân Tần cầm cự lâu, lương thực thiếu hụt, người Việt đổ ra đánh, quân Tần cả thua".

    Đầu đời Hán, Lưu An viết sách Hoài Nam Tử, có đoạn nói về người Việt đánh quân Tần như sau: "Giám Lộc ròng rã hai năm không cởi giá buông cung mà vẫn không có đường vận lương mà đánh nhau với người Việt... Người Việt rút vào rừng, thà ở với muông thú còn hơn làm tôi mọi cho Tần. Họ họp nhau chọn người tuấn kiệt làm tướng, ngày ẩn náu, đêm xông ra đánh. Sau cả phá được bạo Tần, giết Đồ Thư, quân Tần thây đổ máu tuôn hàng mấy chục vạn".

    Những sử liệu trên đã chứng tỏ hơn hai ngàn năm trước ý niệm tự do của dân tộc Việt Nam đã minh bạch, lòng yêu đời tự do của người Việt đã tạo thành sức mạnh, vượt gian khổ, thắng bạo lực xâm lăng. 

    Chính sách thực dân văn hóa đã tiêu hủy sử sách xưa của ta. Nhưng, chính sử sách của Trung Hoa cũng không thể không ghi lại tấm lòng anh hùng yêu chuộng tự do của người Việt, ngay trong tác phẩm Hoài Nam Tử đời Hán đã phải viết một câu vô cùng cảm động về lòng yêu tự do ấy: "... Thà ở với muông thú còn hơn làm tôi mọi cho Tần".

    Nền đô hộ của Trung Hoa kéo dài hơn một ngàn năm. Trong hơn một ngàn năm ấy, dân Việt kháng chiến liên tục để đòi lại tự do. Có những cuộc kháng chiến tạo nên thành tích lẫy lừng sáng ngời trong sử sách: Trưng Nữ Vương, Triệu Trinh Nương, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương, Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ, Dương Diên Nghệ, Ngô Vương Quyền.

    Từ truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương đến những công cuộc đấu tranh giành độc lập, đòi lại tự do trong thời gian Bắc thuộc đã là những dữ kiện hùng hồn nói lên truyền thống yêu tự do của dân tộc Việt. Thói thường, lâu thì sẽ quen, nhưng dân tộc Việt chịu đựng Bắc thuộc hơn một ngàn năm mà vẫn không bao giờ quen đời nô lệ. Tự do gắn liền với lẽ sống của dân tộc ta và hơn một ngàn năm vắng bóng tự do, dân tộc ta vẫn một lòng yêu chuộng tự do. Ý thức tự do, tình yêu chuộng tự do đã trở thành cá tính của dân tộc Việt.


    TỰ DO VÀ CUỘC SỐNG CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI:


    Phát huy nhân tính bằng những công trình đạo đức cũng như tín ngưỡng chân lý là quyền tự do không giới hạn của con người. Không một luật pháp nào được gọi là công chính lại có thể dự phần kiểm soát hoặc đặt ra những mức độ giới hạn cho quyền tự do ấy. Tình trạng chân lý bị kiểm soát, thiện hảo bị hạn chế, tâm linh bị điều hướng bằng pháp luật không phải là trật tự an ninh mà chính là một thảm loạn triệt để, vì cái gông pháp luật đè nặng lên thân phận con người. Trong hoàn cảnh này, mỗi tâm hồn là một sức đề kháng, chống đối.

    Ngược lại, các sinh hoạt của quốc dân trong cộng đồng quốc gia, liên hệ mật thiết với nhau tạo thành cơ cấu tổ chức xã hội, thiết yếu cần có luật pháp công chính cầm cân nẩy mực tạo trật tự, an ninh và thuận hảo.

    Cuộc sống xã hội, ngoài tương quan tình nghĩa nhân luân còn tương quan quyền lực và quyền lợi. Con người, bản chất là thiện, có khả năng và ý hướng thiện, nhưng không ai là kẻ toàn thiện. Những hành vi xấu ác, bạo lực, nếu không được ngăn chận bằng luật pháp, sẽ dễ dàng bộc phát. Vậy nên sinh hoạt xã hội của quốc dân là sinh hoạt tự do luật định thì xã hội mới thăng bằng vững vàng.

    Tóm lại trong cuộc sống tâm linh, người Việt quan niệm bản chất con người, hay nhân tính là thiện. Quyền phát huy nhân tính là một quyền tự do không giới hạn thiết yêu phải có để con người được sống đúng nghĩa làm người. Lịch sử bảo chủng, đấu tranh giành lại độc lập tự do của dân tộc ta đã là một bằng chứng hùng hồn nói lên rằng dân tộc ta có truyền thống yêu đời tự do. Trong cuộc sống xã hội, với những sinh hoạt càng ngày càng phức tạp, để có trật tự và an ninh chung, thiết yếu phải có tự do luật định.


    NGHĨA HAI CHỮ TỰ DO

    CÁ TRONG BỂ RỘNG, MẶC SỨC VẪY VÙNG

    CHIM TRÊN TRỜI CAO, THA HỒ BAY LIỆNG

    ĐẠO TRỜI ĐẶT ĐỊNH, MÌNH ĐƯỢC TỰ DO

    SONG LE TỰ DO, CÓ HAI ĐƯỜNG LỐI

    CÓ THỰC, CÓ DỐI, CÓ THỊ CÓ PHI

    NÊU SAI MỘT LY, THỜI ĐI MỘT DẶM

    THÁNH HIỀN MÔ PHẠM, CỐT CHÍNH THÂN MÌNH

    VỨT CẢ LỢI DANH, NGOÀI VÒNG CƯƠNG TỎA

    QUYỀN THÂY AI CẢ, NGÔI KỆ AI CAO

    NGẤT NGƯỞNG MẶC DẦU, TRONG VÒNG ĐẠO ĐỨC

    XÉT SUY TIẾP VẬT, MỰC THẲNG ĐƯỜNG NGAY

    ĐÚNG LỐI TA ĐI, ĐỐ AI NGĂN CẢN

    TRĂM ĐƯỜNG HOẠN NẠN, MỘT MỰC KHOAN THAI

    TỰ DO ĐƯỜNG NÀY, ẤY LÀ CHÂN CHÍNH

    XƯA NAY THẦN THÁNH, QUÝ TRỌNG TỰ DO

    HÁ NHƯ AI ĐÂU, ĂN CÀN NÓI LOẠN

    CHÂN HƯƠU TAY VƯỢN, MIẾNG KHIẾU MẮT ĐỒI

    LÊU LỔNG RÔNG RÀI, TOÀN KHÔNG ĐẠO ĐỨC

    ĐÓ LÀ ĐẠO TẶC, HÁ PHẢI TỰ DO

    HAI ĐƯỜNG KHÁC NHAU, AI ƠI XIN XÉT


    PHAN BỘI CHÂU



    1. BÌNH ĐẲNG


    Bình đẳng và bình quyền là hai danh từ thường được nói đến trong cuộc sống xã hội. 

    Một xã hội được tổ chức một cách bất bình đẳng, bất bình quyền, là một xã hội bất công, áp bức, không có dân quyền tự do.

    Ngược lại, một xã hội không tôn ti trật tự, trên dưới lẫn lộn, tương quan giữa người với người ai cũng "cá đối bằng đầu", "cá mè một lứa" là một xã hội dã man, không lễ giáo nhân luân.

    Như vậy, chủ trương xã hội dân quyền bình đẳng có bao hàm mâu thuẫn nội tại và có vi phạm nhân luân không? Câu trả lời khẳng định, dứt khoát là: Không. Để cho vấn đề được minh bạch, chúng ta cần nhận thức những điểm căn bản sau:


    1. BÌNH ĐẲNG VỀ YẾU TÍNH LÀM NGƯỜI HAY NHÂN TÍNH BÌNH ĐẲNG


    Mỗi loài trong vũ trụ đều có yếu tính căn bản để định vị sự hiện hữu khác với các loài khác.

    Con người cũng vậy. Yếu tính làm người hay nhân tính là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Yếu tính này có nơi mọi tâm hồn, nhờ yếu tính này mà ta khác với muôn loài. Nhân tính hay yếu tính làm người đồng nhất và bình đẳng vì ai cũng có như ai. Người nào tạo được công trình phát huy nhân tính lớn thì có nhân phẩm cao. Càng phát huy nhân tính thì nhân phẩm càng cao. Con người ở đời, trên dưới khác nhau do nhân phẩm cao thấp khác nhau mà thôi. Đã là người, ai cũng có quyền phát huy nhân tính. Quyền này bình đẳng vì có đồng đều nơi mọi tâm hồn. Trước đạo đức nhân bản cũng như trước luật pháp xã hội, ai cũng như ai, mọi người đều có quyền thể hiện tình thương để làm lớn đức nhân; mọi người đều có quyền tôn trọng và sống theo lẽ phải để làm lớn đức nghĩa; mọi người đều có quyền giữ gìn trật tự, kính trên nhường dưới để làm lớn đức lễ; mọi người đều có quyền học hỏi mở mang kiến thức, phán đoán đúng sai để làm lớn đức trí; mọi người đều có quyền ngay thẳng, thành thật, cương trực để làm lớn đức tín. 

    Vậy, mọi người đều bình đẳng về yếu tính làm người và bình quyền trong công trình phát huy nhân tính. 

    Phật tại tâm, tâm đã chân như, lòng ai không là cõi Niết?

    Chúa ở cùng anh chị em, dâng lòng trọn yêu chân lý, ai không nên thánh?


    1. BÌNH ĐẲNG TRƯỚC LUẬT PHÁP


    Luân lý đạo đức chủ trương như vậy, nhưng chỉ những bậc thánh nhân mới có thể hiện được đạo đức một cách trọn vẹn. Con người ở đời, dù có lòng hướng thiện cũng không tránh khỏi vi phạm những thói hư tật xấu. Người hiền lương bậc quân tử đều là những người ý thức điều thiện, tránh ác. Nói như thế có nghĩa là họ không hoàn toàn tránh khỏi những hành vi xấu ác. Vậy nên cần có luật pháp để giữ gìn kỷ cương cho xã hội. Ý nghĩa của luật pháp là giữ gìn kỷ cương cho xã hội. Ý nghĩa của luật pháp là bảo vệ cuộc sống của người dân sao cho được an ninh, thanh bình, trật tự. Giá trị của luật pháp là làm cho xã hội được là một không gian cư ngụ ấm cúng và thoải mái của mọi công dân lương thiện.

    Một nền luật pháp chân chính bao giờ cùng xây dựng trên nhân tính và được phổ cập một cách minh bạch đến mọi tầng lớp quốc dân.

    Một nền luật pháp chân chính không ngược ý dân, không đe dọa dân và không cản chí dân. 

    Mọi công dân, ai cũng như ai, được quyền hưởng nền luật pháp ấy. Mọi công dân, ai cũng như ai, khi có hành động sai tác hại cho tha nhân, gây rối cho xã hội đều bị luật pháp áp dụng. Đó là bình đẳng trước pháp luật.


    1. NAM NỮ BÌNH ĐẲNG


    Theo đạo đức dân tộc thì xã hội ta từ xưa vốn chủ trương nam nữ bình đẳng. Sử tích năm mươi con theo cha xuống miền duyên hải, năm mươi con theo mẹ lên miền sơn cước đã bao hàm ý tưởng ấy.

    Văn hóa truyền thống của dân tộc, tồn trữ trong văn học dân gian, một pho Kinh Thi gạn đục khơi trong, gom góp tinh hoa nhân bản của biết bao thế hệ đã nói về giá trị nam nữ bình đẳng một cách minh bạch:

    "Công Cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ Mẹ kính Cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con" 

    hoặc:

    "Công Cha như núi ngất trời

    Nghĩa Mẹ như nước ở ngoài biển Đông

    Núi cao biển rộng mênh mông

    Cù lao chín chữ ghi lòng, con ơi!"

    Trong tương quan vợ chồng, luân lý truyền thống của dân tộc ta cũng chủ trương thuận hòa bình đẳng:

    "Thuận vợ thuận chồng bể Đông tát cũng cạn".

    hoặc:

    "Kể chi trời rét đồng sâu

    Có chồng có vợ rủ nhau cày bừa

    Bây giờ trời đã hồ trưa

    Chồng vác lấy bừa, vợ dắt lấy trâu

    Hai ta chồng vợ có nhau

    Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng"

    Hòa thuận bình đẳng, tình nghĩa thủy chung đã làm nên hạnh phúc của tình yêu đôi lứa, hạnh phúc trong hoàn cảnh ấm êm, hạnh phúc cả trong cuộc truân chuyên gió cát. Thành quả của hạnh phúc lứa đôi là con cái:

    "Có chồng mà chẳng có con

    Như bông hoa nở trên non một mình"

    Theo luân lý nhân bản, hợp lẽ sống tình người của dân tộc ta thì trai cũng là người, gái cũng là người. Đối với bậc làm cha mẹ, tấm lòng yêu con, gái cũng như trai:

    "Trai mà chi, gái mà chi

    Đứa nào có ngãi, có nghì thì hơn"

    Trong gia đình, mối tương quan cha mẹ, vợ chồng và con cái được luân lý truyền thống chủ trương nam nữ bình đẳng. Cũng như vậy, ngoài xã hội, luân lý dân tộc cũng không chủ trương nam trọng nữ khinh. Quốc dân tôn kính anh thư liệt nữ cũng như tôn kính anh hùng hào kiệt. Tấm lòng chân thành ấy đã được gửi gấm vào văn học dân gian: 

    "Phấn son tô điểm sơn hà

    Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam"

    hoặc:

    "Ru con con ngủ cho lành

    Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

    Túi gấm lẫn với túi hồng

    Têm trầu cánh kiến cho chồng trẩy quân"

    Đền thờ cũng như ngày kỷ niệm các anh thư luôn luôn được quốc dân sùng bái, chiêm ngưỡng.

    Việt Nam Quốc Dân Đảng đề xướng chủ nghĩa Dân Quyền Tự Do, mà tự do thiết yếu gắn liền với bình đẳng. Do đó Đảng ta cùng đề xướng nam nữ bình đẳng.

    Đảng trưởng Danh Dự Phan Bội Châu đã tuyên bố: "Phụ nữ vận động là một việc cần thiết ở trong xã hội đời bây giờ. Nhưng mà ta muốn bắt tay vào làm việc vận động tất trước phải nhận cho phân minh ba điều:

    1. Phải biết phụ nữ là một hạng người không thiếu được ở trong loài người 

    2. Phải biết phụ nữ là một suất dân không thiếu được ở trong dân nước

    3. Phải biết phụ nữ cũng là một bổn phận rất lớn trong xã hội 

    (Đã cho Đông Pháp Thời Báo đăng trong số ra ngày 22-12-1927, tựa đề "Phụ nữ Vận Động")


    Về nữ quyền, Đảng trưởng Danh dự đã viết: "Theo ở trên mặt chữ mà nói thì nữ quyền của người đàn bà con gái, cũng như nam quyền là quyền của người con trai. Nhưng xét cho đến gốc chân lý, thăm cho tới nguồn triết học thì nữ quyền với nam quyền tất cả thâu nạp vào trong hai chữ "Nhân Quyền". Nhân quyền nghĩa là quyền của người mà cũng nghĩa là quyền làm người. Rằng quyền của người, tức là: cái quyền đó là người thời đáng được. Rằng quyền làm người, tức là: đã là con người tất có cái quyền được làm con người mà không phải làm trâu ngựa. Con trai là người, con gái cũng là người, ở trong hai chữ "quyền người" đã bao bọc cả rồi. Không phải phân biệt nam quyền nữ quyền nữa. Nếu phân biệt nam quyền, nữ quyền cũng là dư...Như gánh vác việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai làm được, lẽ đâu cấm con gái không được làm? Chen thân xã hội, chữa cháy vớt chìm, con trai làm được, phép đâu cấm con gái không được làm? Đó chẳng qua là trọn vẹn cái quyền làm người, mà chính là trọn vẹn cái nghĩa vụ làm người. Vì trọn vẹn cái nghĩa vụ làm người nên quyền người càng phát đạt. Quyền con gái cũng chỉ ngần ấy mà thôi. Nói tắt lại, những việc gì đáng làm, không thể ngăn cấm không được làm, những việc gì không đáng làm, không có thể nài ép mình, bắt buộc phải làm"


    (PHAN BỘI CHÂU - Quyền Của Người Đàn Bà Con Gái)


    Tóm lại, nam quyền và nữ quyền bình đẳng họp thành nhân quyền. Trong một nước, nhân quyền chính là Dân Quyền vậy.


    1. DÂN CHỦ


    Chủ nghĩa Dân Quyền Tự Do của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã nói lên một cách minh bạch rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhất quyết không chủ trương đảng trị. Hơn thế nữa, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết liệt đả phá độc tài đảng trị, nguyện đem chính máu xương mình tô thắm cho Tự Do. Trước khi đền ơn nước, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học đã nhắc nhở anh em đồng chí: "Chúng tôi đi chết đây. Các anh ở lại, ai công nào việc ấy. CỜ ĐỘC LẬP PHẢI NHUỘM BẰNG MÁU! HOA TỰ DO PHẢI TƯỚI BẰNG MÁU! Tổ quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều nữa. Rồi thế nào cách mạng cũng có ngày thành công".

    Đem chính máu mình tưới hoa Tự Do. Lòng yêu Tự Do thiết tha như vậy, bao la như vậy, làm sao có thể chấp nhận được độc tài đảng trị. Khi bước lên đài tuẫn quốc, 13 Tiên Liệt của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã lẫm liệt đọc bản tuyên ngôn độc lập ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa: VIỆT NAM VẠN TUẾ.

    " Cả 13 người không một người nào hô Việt Nam Quốc Dân Đảng vạn tuế, bởi vì ai cũng một lòng một dạ hiến dâng thân thế cho đất nước, hiến dâng Đảng cho nước. Đảng vì nước là ước nguyện của toàn Đảng. Quyền lợi của quốc dân, hạnh phúc quốc dân là cứu cánh của Đảng. Vậy nên một nền dân chủ chân chính là một công trình mà Việt Nam Quốc Dân Đảng nỗ lực thành khẩn xây dựng. 

    Trong trào lưu tiến bộ của nhân loại, cách mạng dân chủ đã có thành quả làm cho nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng chính thể dân chủ để quản lý nhà nước. Những chính thể ấy có nhiều ưu điểm, đống thời cũng hàm chứa những khuyết điểm cần được tu chính. 

    Đã là nhân loại, yếu tính tất phải tương đồng. Nhưng, mỗi quốc gia là một địa phương riêng biệt, nên cách thế sinh hoạt của dân các nước, để thích nghi sinh tồn, cũng có những sắc thái khác nhau tạo thành những nếp sống với phong tục tập quán khác nhau. Do đó văn hóa các nước có những đặc thù độc đáo.

    Một chính thể nhằm mục đích đem lại hạnh phúc đích thực cho dân nước, luôn luôn phải canh tân tiến bộ, đồng thời luôn phải gắn bó chặt chẽ với thuần phong mỹ tục, nhất là không bao giờ được ngược chiều văn hóa.

    Câu: "Trước phải hiểu lịch sử nước nhà, sau phải coi phong trào thế giới. Làm sao là khôn, làm sao là dại? Đâu là quốc túy nên giữ gìn, đâu là hại phải cắt đứt" của nhà chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh đã trở thành phương châm của những công trình cách mạng cải tiến dân sinh của Đảng ta.

    Xã hội Việt Nam, truyền thống tự xa xưa đã có mỹ tục thể hiện tổ chức dân chủ: Mỹ tục hương ước tự trị. Tục ngữ có câu: "Phép vua thua lệ làng". Sinh hoạt trong làng do dân làng bàn định, ban quản lý dân làng do dân cử, triều đình tuyệt đối không can thiệp vào. Mỗi làng đều có tài sản riêng. Mỹ tục này có giá trị tốt là giúp cho dân làng được tham dự vào việc công đồng thời cũng được quyền tự giải quyết những việc liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thân phận mình. Tổ chức hương ước tự trị là một hình thức dân chủ khá rộng rãi, do đó, những khi triều đình suy yếu đã xảy ra tình trạng "Hương đảng tiểu triều đình".

    Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương giữ lấy tinh thần dân chủ nòng cốt của mỹ tục này, cải tiến cập nhật hóa bằng cách thâu nhận thêm tinh hoa của các chế độ dân chủ của Việt Nam.

    Đảng ta, trên phương diện tổ chức quản trị xã hội, nhất quyết không làm công việc đối nghịch văn hóa dân tộc, xóa bỏ mỹ tục thuần phong. Chúng ta giữ lấy quốc túy rồi canh tân hình thức để làm cho dân quyền được phong phú mỹ mãn hơn. Do đó, nền tảng xóm làng của nước nhà ta vẫn duy trì, đồng thời phát huy các cộng đồng dân sinh để đáp ứng nhu cầu trên đà tiến bộ. Muốn sinh hoạt quân bình quyền lợi, mỗi cộng đồng đều có điều lệ nội quy riêng do những đoàn viên trong cộng đồng cùng thỏa thuận định bàn với nhau. Điều lệ, nội quy này không được đối nghịch với luật pháp và phải được luật pháp quốc gia bảo vệ một cách đúng đắn.

    Dĩ nhiên tổ chức quốc gia phải có chính phủ trung ương. Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương một chính thể đúng đắn phải thể hiện một nền chính trị dân chủ, xây dựng trên nền tảng văn hóa và đạo đức dân tộc, theo ý chính đáng của quốc dân mà bổ túc bằng những tinh hoa chính trị nhân bản của các quốc gia tiến bộ trên thế giới.


    VIỆT NAM QUỐC DÂN CHỦ NGHĨA


    DÂN SINH HẠNH PHÚC


    I. DÂN SINH HẠNH PHÚC

    II. VĂN HÓA ĐỘC LẬP

    III. GIÁO DỤC TIẾN BỘ

    IV. CỘNG ĐỒNG DÂN CHỦ

    V. LUẬT PHÁP NHÂN BẢN

    VI. HỮU SẢN DÂN QUYỀN


    "Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương mưu hạnh phúc cho hết thẩy tầng lớp Quốc Dân chứ không thiên về một giai cấp nào. Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương lập nên một xã hội quân bình trong đó có các giai cấp được hòa hài, mọi người không chênh lệch về giàu nghèo".


    TUYÊN NGÔN VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG 1948


    1. DÂN SINH HẠNH PHÚC


    Dân là con người sống trong xã hội. Sinh là cuộc sống và những sinh hoạt để sống. Dân sinh là cuộc sống với những sinh hoạt để sống của con người trong xã hội. Hạnh phúc là sự vui sướng hợp với đạo lý và giá trị nhân bản. 

    Chủ nghĩa Dân Sinh Hạnh Phúc của Quốc Dân Đảng chúng ta là chủ nghĩa nhằm tổ chức những sinh hoạt xã hội với mục đích thực hiện hạnh phúc chân chính cho từng người dân Việt Nam. Chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng là những người nguyện đem thân thế hiến dâng cho hạnh phúc của đồng bào. Bất cứ người Việt Nam nào cùng chung nguyện ước trên đều là đồng chí của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

    Dẫn đến hạnh phúc tuyệt đối và vĩnh cửu là sứ mạng của tôn giáo. Công trình của đảng cách mạng vì nước vì dân chỉ là thể hiện hạnh phúc trong phạm trù đời sống xã hội mà thôi.

    Hiển nhiên rằng, muốn được hòa hợp yên vui, mối tương quan giữa người và người thiết yếu phải là nhân ái. Mọi người đối xử với nhau bằng tình huynh đệ thì dễ dàng "chín bỏ làm mười". Ngược lại, coi nhau như đối thủ đấu tranh thì ắt có tình trạng "hòn đất ném đi, hòn chì trả lại". Mầm mống bất ổn từ đó nẩy sinh. Trên giá trị đạo đức thuần túy, ai là người không biết và không muốn thể hiện tình anh em máu mủ trong tương quan liên hệ với đồng bào.

    "Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng"

    Câu ca dao trên rất gần gũi với tâm tình, rất quen thuộc với lời ăn tiếng nói của người dân Việt. Nhưng thực tế, vất vả mưu sinh, nhu cầu thúc bách, quyền lợi va chạm, bất đồng, mâu thuẫn từ đó mà sinh ra. Nếu sinh hoạt xã hội không được quản lý một cách đúng đắn, không được điều hành một cách công chính, xã hội sẽ trở nên một đấu trường rối loạn với những hành vi phóng đãng, hạnh phúc của dân sinh đổ vỡ dễ dàng. Những điều kiện tối thiểu để Dân Sinh Hạnh Phúc được thực thi là:

    1. Nhân phẩm phải được tôn trọng và bảo đảm

    2. Mọi người bình đẳng trước quyền tự nhiên và trước pháp luật

    3. Không ai bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào 

    4. Không ai bị bóc lột dưới bất cứ hình thức nào 

    5. Tự do phải được luật pháp tôn trọng và bảo vệ

    6. An ninh phải được thể hiện một cách cụ thể và hữu hiệu

    8. Mọi người dân phải được hưởng một nền văn hóa giáo dục nhân bản ở mức độ phổ thông cần thiết 

    9. Mọi người dân phải được hữu sản trong trạng thái quân bình 

    10. Một thể chế dân chủ chân chính phải được áp dụng và quản lý bằng dân quyền


    1. VĂN HÓA ĐỘC LẬP


    Việt Nam Quốc Dân Đảng nhìn nhận rằng loài người có chung nhau những yếu tính căn bản. Vậy nên, công trình văn hóa của các dân tộc có những giá trị tương đồng. 

    Nhưng, bên cạnh những điểm tương đồng, vì hoàn cảnh nhân sinh ở những quốc gia khác biệt đã tạo nên những sắc thái riêng tư độc đáo mà không ai có thể phủ nhận được. Việt Nam Quốc Dân Đảng, lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm căn bản, chủ trương một nền văn hóa khai phóng: giữ gìn quốc túy, đón nhận tinh hoa của các dân tộc khác để bổ túc cho văn hoá nước nhà.

    Về sinh hoạt văn hóa, Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương tự do tôn giáo là quyền tự do tâm linh phải được có và phải được tôn trọng triệt để. Mọi hành vi xâm phạm quyền tự do tôn giáo đều bị coi là phạm pháp. Song song với những giá trị tâm linh thiêng liêng, những sinh hoạt văn học, nghệ thuật là những giá trị thẩm mỹ của văn hóa nhân bản, phải được tự do sinh hoạt và cần được khích lệ phát triển. 

    Đặc điểm của truyền thống Việt Nam là không chú tâm tồn trữ văn hóa vào những công trình xây cất vật chất, mà tồn trữ vào những công trình đạo lý nhân luân. Hơn hai ngàn năm dựng nước, triều đại Hùng Vương không để lại gì ngoài một xã hội trong đó con người sống với nhau bằng liên hệ nhân nghĩa chân thành, coi nhau là đồng bào cốt nhục, tạo nên chủ nghĩa yêu nước: "Cái chủ nghĩa yêu nước, cái công đức cứu đời, tấm lòng sốt sắng với đồng bào, giọt máu chứa chan cùng sông núi, hãy còn nhơn nhơn nhức nhức trong khối óc người ta". 

    PHAN BỘI CHÂU 

    (Đã cho Đông Pháp Thời Báo đăng trong số ra ngày 5-7-1926, tựa đề "Sống Mê-Chết Tỉnh").


    Tương quan nhân nghĩa chân thành, tình tự đồng bào cốt nhục, chủ nghĩa yêu nước thương nòi là những công trình văn hóa lớn lao, không có một công trình văn hóa lớn lao, không có một công trình xây cất bằng gạch đá nào có thể sánh cùng. Chính công trình văn hóa thời đại Hùng Vương đã làm cho dân tộc Việt Nam vượt qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà không bị đồng hóa.

    Đến khi vãn hồi độc lập, còn dưới chế độ quân chủ, mà vua Thái Tông nhà Lý mùa xuân đích thân đẩy cầy, tả hữu can rằng: "Cầm cái cầy đi cầy ruộng là việc con nhà nông, vua không làm việc ấy". Vua nói: "Không làm thì không xướng xuất cho người ta được". Vua Lý Thánh Tông ngồi ở điện xử án, công chúa hầu ở bên, vua chỉ vào công chúa mà bảo các án quan rằng: "Trời lạnh, con gái ta mặc áo kép mà còn thấy lạnh huống hồ những phạm nhân không được ăn no mặc ấm! Ta suy lòng yêu con ta để làm cha mẹ dân, người dân không hiểu biết thì nên khoan tha cho".

    Đời Trần, vua Thái Tông hạ chỉ cho quan và dân gọi vua là "quốc gia" để nhắc nhở vua luôn luôn phải thực hành trách nhiệm và bổn phận đối với nước nhà. Dưới triều đại này, các vua sáng suốt khuyến nông, chẩn tế kẻ bần cùng, vua tôi thân yêu không cách biệt cho nên thấu hiểu dân tình. Chế độ quân chủ mà có hàm chứa tinh thần dân chủ, tôn trọng dân quyền nên mới có được Hội Nghị Diên Hồng, dẹp tan quân Mông Cổ, một đế quốc xâm lược hùng mạnh nhất thế giới đương thời.

    Xã hội tương thân, "lá lành đùm lá rách" gặp cơn hoạn nạn thiên tai thì xá thuế cho dân. Đó là văn hóa, chớ đâu phải vắt cạn của dân, kiệt cùng sức dân để xây lâu đài nguy nga tráng lệ mới là văn hóa. Những kẻ ngày nay, trên đường tìm kiếm không thấy công trình kiến trúc gì của đời xưa mà chê trách tiền nhân chưa được văn minh thì thật là sai lầm lắm vậy.

    Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương văn hóa truyền thống phải được nghiên cứu khảo đính thấu đáo, bảo tồn và phát huy công trình nhân bản, để làm đường đi lối về với quá khứ cho những sinh hoạt văn hóa ở hiện tại và tương lai. Gốc không vững thời ngọn không bền là điều rất đáng quan tâm.


    1. GIÁO DỤC TIẾN BỘ


    "Cái họa chết bằng óc đói, thiệt tai hại hơn cái chết bằng bụng đói biết bao nhiêu! Bây giờ muốn tránh cái họa ấy, chẳng gì cần hơn là giáo dục.

    Chẳng bao giờ giáo dục chết mà quốc dân sống; chẳng bao giờ giáo dục suy mà quốc dân thịnh được. Quốc dân chẳng sống, quốc dân chẳng còn, quốc dân chẳng định thì cái địa vị một nước ra thế nào?... Dân là sinh mệnh của nước, mà giáo dục lại là sinh mệnh của dân. Giáo dục mà không phải là quốc dân giáo dục thì hai chữ giáo dục chẳng phải là chữ suông trên pho tự điển mà thôi ư?”

    PHAN BỘI CHÂU


    (Đã cho Văn học Tuần san đăng trong số 3, ra ngày 1-11-1933, tựa đề "Vấn Đề Quốc Dân Giáo Dục")


    Việt Nam Quốc Dân Đảng đặt giáo dục lên hàng quốc sách, chủ trương áp dụng chính sách cưỡng bách giáo dục thanh thiếu niên với trình độ phổ thông cần thiết của chương trình giáo khoa lớp 12. 

    Mở các trường huấn luyện chuyên nghiệp thích ứng với nhu cầu dân sinh, khích lệ và tạo điều kiện thuận tiện để đồng bào dễ dàng tham gia học tập nhằm mục đích phát triển khả năng thực nghiệp cần thiết. 

    Mở mang đại học các ngành để phát huy tiềm năng trí lực của đồng bào, đưa nước nhà đến địa vị văn minh tiến bộ ngang hàng với các quốc gia tấn tiến trên thế giới. 

    Giáo dục phải được xây dựng trên nền tảng căn bản là đạo đức dân tộc, phát huy lẽ sống nhân luân phù hợp với cá tính dân tộc, đồng thời khai phóng thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, không ngược trào lưu tiến hóa.


    IV. CỘNG ĐỒNG DÂN CHỦ


    Để cho nền dân chủ được có giá trị thiết thực, để giảm thiểu những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa quốc dân và chính phủ, để nâng cao dân quyền mà không đưa đến tình trạng phóng đãng vô chính phủ hay chính phủ hữu danh vô thực, Việt Nam Quốc Dân Đảng đề xướng chính sách dựa trên mỹ tục hương thôn tự trị của dân tộc ta, cải tiến canh tân cho thích ứng với trào lưu tiến hoá của lịch sử, khích lệ quốc dân tổ chức những cộng đồng sinh hoạt xã hội. Mỗi cộng đồng đều có thực chủ quyền riêng, sinh hoạt trong khuôn viên cộng đồng được quản lý và điều hành bằng những quy luật do chính các đoàn viên luận bàn và soạn thành, không nghịch với quốc luật. Các cộng đồng phát triển sinh hoạt, phải có quan hệ hỗ tương không nghịch với quyền lợi chung của dân tộc, hợp thành sinh hoạt quốc gia.

    Như vậy, người dân được tham dự vào việc quản trị của chính phủ một cách có hiệu năng, những mâu thuẫn nếu có sẽ được giảm thiểu, quyền chính trị của chính phủ và của quốc dân sẽ được thăng bằng điều hòa.

    Với những dân quyền thiết yếu phải có trong chế độ dân chủ, cộng thêm những cộng đồng tự trị sẽ xóa bỏ được những bất mãn có thể xảy ra giữa quốc dân và chính phủ. Như vậy năng lực quốc dân và sức mạnh chính phủ hòa hợp, song song xây đắp cho sức mạnh quốc gia.


    V. LUẬT PHÁP NHÂN BẢN


    Sinh hoạt chính trị thiết yếu gắn liền với sinh hoạt pháp độ. Một chính thể muốn thực hiện hạnh phúc đích thực hợp với đạo lý nhân sinh, phải có một nền pháp luật công chính nhân bản.

    Luật pháp được làm thành không nhằm mục đích đe dọa quốc dân, không làm cho quốc dân lo âu sợ hãi. Luật pháp công chính nhằm mục đích bảo đảm an ninh cho cuộc sống của quốc dân, làm cho quốc dân được sống yên vui hài hòa, không nhìn chế độ, không nhìn chính phủ như đối thủ cần phải đề phòng.

    "Pháp là hình thức luật lệ, độ là các thứ chế độ đặt ra chương trình. Hai việc ấy rất quan hệ ở trên trường chính trị, tất phải thẩm xét cho tinh tường. Hình pháp được công bình thời người không tội lỗi khỏi phải chịu oan, mà người gian ác biết lo tránh phạm tội. Chế độ làm cho được hoàn thiện thời người phú cường không dám ra tay áp chế mà người bần nhược cũng có chốn làm ăn. Những người có chức trách vô luận lớn nhỏ, thảy phải gánh việc mà làm cho nước được lợi, dân được phúc. Nếu có một phần phế trệ thời nước với dân thiếu mất một phần phúc lợi.

    Giả như chức trách mà phế trệ quá nhiều thời nhân dân tất phải khốn cùng mà chính trị cũng thành ra đồ giết dân hại nước. Vậy nên phải hết sức từ lý, thấy một chức việc gì trễ nải, gấp phải thay cũ mà đổi mới ngay".

    (PHAN BỘI CHÂU - Khổng Học Đăng)


    Việt Nam Quốc Dân Đảng không chủ trương pháp trị vì pháp trị thuần túy làm cho dân chủ mất mát nhiều ý nghĩa. Một nền luật pháp tình lý điều hòa là một nền luật pháp phải được áp dụng trong cuộc dân sinh. Các thể thức dân chủ được tinh lọc thích hợp với nếp sống truyền thống, cân bằng bởi cộng đồng dân quyền trực tiếp sẽ đưa xã hội đến tình trạng thăng bằng ổn định giữa quốc dân và chính phủ.


    VI. HỮU SẢN DÂN QUYỀN 


    • QUÂN PHÂN KINH TẾ XÃ HỘI

    "Quân nghĩa là xử trí cho được cân bằng không người quá nhiều, không người quá ít, không người quá sướng, không người quá khổ.

    Đã cân bằng được như thế, tất nhiên ai có năng lực gì cũng hết sức làm việc ấy; ai đã có việc làm, tất cũng được hưởng phần ăn. Làm siêng in như nhau, ăn cũng đều như nhau, thời chắc người nào người nào cũng vui vẻ. Bởi vì quân mà nảy ra hòa, tất nhiên sinh tụ càng ngày càng đông đúc, mà sinh sản phẩm càng ngày càng giàu nhiều, tất không phải là sợ của thiếu mà lại được cái kết quả là xã hội được bình yên. Bình yên thì không bị vạ nghiêng đổ.

    Xưa nay ở trong quốc gia xã hội, sở dĩ đến nỗi "bất yên" là nguyên nhân vì "bất hòa"; sở dĩ bất hòa là nguyên nhân vì "bất quân". Hễ xử trí không được quân bằng thời ở trong xã hội đó, người giàu và người sướng ăn hiếp người đói và khổ, người đói và khổ tức giận người giàu và sướng, tất nhiên sinh ra bất hòa; đã bất hòa tất phải thù oán nhau, làm gì cho yên được? Hễ đã bất yên thời cái nghiêng đổ tới ngay". 

    (PHAN BỘI CHÂU - Khổng Học Đăng)


    • SỰ NGUY HẠI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN:

    "Tiền của nhóm vào một chỗ tất nhiên người giàu quá ít, người đói quá đông mà kết quả thời dân phải ly tán"


    • SỰ TÀN ĐỘC CỦA CHỦ NGHĨA VÔ SẢN:

    "Nhất thiết loài người, khi mới sinh ra, người nào cũng có thể dắt vào đường tốt, có can hại gì mà đến nỗi mất nhân cách? Người sở dĩ mất nhân cách chỉ vì hoàn cảnh lùa đẩy: hoàn cảnh tốt thời tốt, hoàn cảnh xấu thời xấu.

    Hoàn cảnh tốt là gì? Là tiền của có sẵn luôn luôn, gọi bằng hữu hằng sản; hoàn cảnh xấu thời trái thế, một bữa no mười bữa đói, một ngày đủ mười ngày thiếu, không tiền của sẵn luôn, chính là vô hằng sản. 

    Tuy ở trong loài người cũng có một hạng người mà ta gọi bằng thánh hiền, dầu đụng lấy hoàn cảnh xấu (vô hằng sản) mà tâm địa thường tốt luôn (hữu bằng tâm). Những hạng người ấy quá hiếm, chỉ duy đạo đức cao, học vấn tốt mà làm một hạng người "sĩ" mới hay được như thế. Còn đến lớp dân phổ thông thời vì vô hằng sản tức khắc nhân đó mà vô hằng tâm. Nếu đã đến lúc vô hằng tâm thời tuông luồng, xiên vay, gian dối, bậy bạ, chẳng cái gì không làm. Đến khi đã làm điều xấu mà bị can phạm pháp luật, sụp vào tội ác thời những người có quyền chính trị vịn lấy cớ đó mà trừng phạt, chém giết họ Thế thời những bọn có quyền chính trị đặt bẫy mà sụp dân đó vậy. Làm chính trị bạc ác để đến nỗi dân đói rét, khi họ vì đói rét mà sụp vào tội thời lại giở pho luật ra mà trừng phạt, chém giết họ, chẳng phải thả bẫy sụp dân là gì?"

    (PHAN BỘI CHÂU - Khổng Học Đăng)


    • QUYỀN LỢI

    Đạo trời rất phải, luật người rất công, 

    Nghĩa vụ đã xong, há không quyền lợi?

    Miệng có quyền nói, óc có quyền suy

    Chân có quyền đi, tay có quyền đẩy

    Mắt có quyền thấy, tai có quyền nghe

    Đất nọ xứ kia, có quyền đời ở

    Viết sách làm vở, quyền bút mặc lòng

    Hội hè việc chung, có quyền nhóm họp

    Thợ thuyền giúp đáp, quyền được chung nhau 

    Bán bộ buôn tầu, thông thương tùy tiện

    Trải xem hiến pháp, các nước văn minh

    Quyền lợi rành rành, của dân dân được

    Quyền dân giữ nước, thời lợi càng nhiều

    Nghĩa vụ bao nhiêu, bấy nhiêu quyền lợi

    Vốn tất có lãi, ấy đạo công bình

    Quyền lợi rành rành, đồng bào phải biết 

    PHAN BỘI CHÂU


    Trong cộng đồng quốc gia, nếu quốc dân chưa có tài sản tư hữu căn bản và chưa có quyền tham dự vào công cuộc quản lý điều hành kinh tế, quốc dân chưa có dân quyền tự do. 

    Kinh tế là huyết mạch then chốt của cuộc sống. Quyền sống là quyền tự do tối thiểu của con người. Quốc dân chưa có quyền quản lý và điều hành kinh tế thì dù dưới hình thức nào của xã hội, con người. Quốc dân chưa có quyền quản lý và điều hành kinh tế thì dù dưới hình thức nào của xã hội, quyền sống - quyền tự do tối thiểu của quốc dân - còn bị lệ thuộc. Nói một cách khác: sống chưa có tự do. 

    Thực chất của cuộc sống chưa có tự do thì những hình thức tự do như ứng cử, tuyển cử v...v... với những hệ thống lập pháp, hành pháp chỉ là dân chủ mệnh danh mà thôi. Tựu trung quốc dân chưa được làm chủ chính thân phận mình, chớ đừng nói tới làm chủ nước. Chưa có kinh tế dân quyền mà nói tự do thì không khác nào một con thuyền, dân là thủy thủ đoàn có tự do chèo, tự do lái nhưng không có quyền tự do chọn bến bờ, không có quyền tự do chọn phẩm vật ấy! Thủy thủ đoàn này đâu phải là chủ đích thực của con thuyền. Cũng như vậy, chưa có kinh tế dân quyền, dân chưa phải là chủ thực sự của nước, có chăng, chỉ là dân chủ giả tạo.


    Để tiến đến một nền dân chủ thực sự, Việt Nam Quốc Dân Đảng với chủ nghĩa Dân Quyền Tự Do, chủ trương phải có kinh tế hữu sản dân quyền:


    A. Phân phối hữu sản

    1. Quốc dân phải có tài sản tư hữu căn bản

    2. Tài sản tư hữu của quốc dân được phân phối ở trạng thái quân bình

    3. Tránh tình trạng tập trung tài sản vào quyền tư hữu cá nhân một cách thái quá

    4. Vô sản là một quái tượng tàn độc của xã hội

    Bốn điểm trên đây đã được Đảng trưởng Danh Dự giảng giải minh bạch ở trên. Các đồng chí nên suy ngẫm thấu triệt để áp dụng một cách thực tế vào cuộc sống xã hội.


    B. Kinh tế Dân quyền 

    Tài sản tư hữu căn bản của quốc dân đã có và đã ở tình trạng cân bằng là điều kiện đủ để cuộc sống kinh tế cá nhân và xã hội hòa hợp thịnh vượng đồng tiến. Tình trạng hữu sản rời rạc dễ dàng bị những quyền lực chính trị cũng như quyền lực kinh tế đè nén, điều khiển và lợi dụng. Công lao khó nhọc, công trình tim óc máu xương của dân nước không thể để cho một thiểu số cá nhân khôn ngoan quỷ quyệt, nhanh tay vơ vét, độc quyền hưởng thụ.

    Như vậy là ngược với đạo đức công bằng. Dân nước ta hơn bốn ngàn năm "Phúc cùng hưởng, họa cùng chung. Một gan, một ruột ghi sâu chữ đồng". Trước đà tiến bộ văn minh, kinh tế phát triển nhanh chóng và phức tạp, kinh tế phát triển nhanh chóng và phức tạp, kinh tế dân quyền phải có để toàn thể đồng bào cùng nhau quản lý, cùng nhau chung hướng quyền lợi kinh tế nước mình. Việt Nam Quốc Dân Đảng đề xướng chính sách giữ gìn quốc túy mỹ tục hương thôn tự trị, canh tân hợp thời thích ứng với hoàn cảnh lịch sử thành những cộng đồng trong các ngành sinh hoạt kinh tế. Như vậy, tài sản cộng đồng và tài sản quốc gia cũng chiều tịnh tiến. Mọi hình thức tranh chấp, bất mãn, mâu thuẫn không còn cơ hội nẩy sinh mạnh trên lãnh vực kinh tế. Con đường tiến đến tương lai nước mạnh dân giàu, sống đời hạnh phúc ấm no đã được vạch ra rõ ràng trong nỗ lực xây dựng hạnh phúc dân sinh.

    1992


    HẾT


    Không có nhận xét nào