Vuong Chi Nghia/Nghiên Cứu Lịch Sử
02/06/2026
Từ 17/2 đến 16/3/1979, quân đội Trung Quốc tiến hành chiến dịch quân sự kéo dài khoảng một tháng tại biên giới phía Bắc Việt Nam. Chiều sâu tiến công đạt 30-50km, riêng hướng Lạng Sơn sâu hơn do địa hình thuận lợi.
Ba mục tiêu chính bị chiếm tạm thời: Lào Cai (17-18/2), Cao Bằng (25-26/2), và Lạng Sơn (5/3) - điểm tiến sâu nhất, cách Hà Nội khoảng 150km. Dù đường tiến về Hà Nội vẫn mở, Trung Quốc không tiếp tục. Quân Trung Quốc không vào được đồng bằng, không đe dọa trực tiếp Hà Nội, không phá vỡ được các quân khu chủ lực của Việt Nam, và không giữ lại vùng đất nào sau khi rút quân.
Động cơ và lý do rút quân
Năm 1978, Việt Nam đánh Campuchia và lật đổ chế độ Khmer Đỏ - đồng minh trực tiếp của Bắc Kinh. Với Trung Quốc, đây là tổn thất nghiêm trọng về uy tín cường quốc khu vực. Nếu không phản ứng, các nước chư hầu khác sẽ hiểu rằng dựa vào Trung Quốc không an toàn, khiến ảnh hưởng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á sụp đổ.
Cùng lúc đó, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô và cho Liên Xô sử dụng căn cứ Cam Ranh. Trong bối cảnh Trung Quốc đang thù địch với Liên Xô và bắt tay với Mỹ, Bắc Kinh coi Việt Nam như tiền đồn của Liên Xô ở phía Nam. Đánh Việt Nam trở thành cách đánh gián tiếp Liên Xô, gửi thông điệp rằng Liên Xô không bảo vệ được đồng minh. Thêm vào đó, Đặng Tiểu Bình cần một cuộc chiến thực tế để lộ rõ điểm yếu của PLA - lúc đó đã già nua và lạc hậu - nhằm tạo động lực cho việc thanh trừng tướng lĩnh cũ và cải tổ toàn diện. Việt Nam là mục tiêu phù hợp: đủ gần, đủ cứng để lộ yếu kém, nhưng không đủ mạnh để đe dọa tồn vong Trung Quốc.
Kế hoạch của Trung Quốc không bao gồm chiếm Hà Nội, lật chính quyền Việt Nam hay giữ đất lâu dài. Mục tiêu thực tế là chiếm các thị xã biên giới, gây thiệt hại, rút quân có kiểm soát, rồi tuyên bố "đã dạy xong". Tiến sâu hơn không tạo thêm lợi ích chính trị mà chỉ tăng rủi ro. Bộ binh Trung Quốc tuy đông nhưng phối hợp kém, thương vong cao, hậu cần yếu và không quen địa hình rừng núi. Nếu tiến sâu, tuyến tiếp tế kéo dài trong khi du kích và quân chủ lực Việt Nam bắt đầu vào cuộc, dẫn tới nguy cơ sa lầy.
Liên Xô điều hạm đội Thái Bình Dương, tập trung quân ở Mông Cổ và đe dọa biên giới phía Bắc Trung Quốc. Nếu chiến tranh kéo dài, Trung Quốc phải chia quân hai mặt trận với rủi ro chiến tranh toàn diện với Liên Xô. Tuy nhiên, Liên Xô không định đánh Trung Quốc vì Việt Nam. Họ chỉ răn đe và gây áp lực chiến lược, không có can thiệp trực tiếp hay kế hoạch mở mặt trận thật. Trung Quốc đánh có tính toán vì biết Liên Xô sẽ không liều.
Sau chiến tranh, Đặng Tiểu Bình đã có đủ kết quả để báo cáo: với Mỹ rằng ông dám đánh đồng minh Liên Xô, với ASEAN rằng Việt Nam không phải bá chủ, và với quân đội rằng PLA phải cải tổ ngay. Ở cấp chiến lược-chính trị, Trung Quốc đã đạt đủ mục tiêu để rút quân.
Đánh giá kết quả trên ba tầng
Ở tầng tác chiến trực tiếp năm 1979, Trung Quốc rõ ràng thiệt hại hơn. Họ gặp thương vong cao hơn dự kiến, bộc lộ PLA lạc hậu nặng, không tiêu diệt được chủ lực Việt Nam và không đạt thắng lợi quân sự rõ ràng. Chính Trung Quốc sau này thừa nhận cuộc chiến "bộc lộ nghiêm trọng sự lạc hậu của quân đội", dẫn tới cải cách quân đội sâu rộng từ thập niên 1980. Cải cách PLA bao gồm: cắt giảm biên chế từ hơn 4 triệu xuống còn 3 triệu người, thanh lý hàng loạt tướng lĩnh già yếu, chuyển từ quân đội "hồng" sang quân đội "chuyên", đầu tư mạnh vào công nghệ quân sự và hiện đại hóa trang bị, thay đổi học thuyết từ chiến tranh nhân dân sang chiến tranh công nghệ cao. Việt Nam mất các thị xã biên giới, tổn thất lớn ở lực lượng địa phương, nhưng giữ được thế chiến lược và không bị sập trận.
Ở tầng chính trị ngắn hạn, Việt Nam thiệt hơn. Trung Quốc đạt mục tiêu trừng phạt Việt Nam, cảnh cáo các nước khác và chứng minh sẵn sàng dùng vũ lực. Việt Nam bị ASEAN xa lánh và phụ thuộc sâu hơn vào Liên Xô.
Ở tầng chiến lược dài hạn, Việt Nam là bên thiệt nhất một cách rõ rệt. Trung Quốc lấy chiến tranh làm lý do cải tổ PLA, ổn định quan hệ với Mỹ, tập trung phát triển kinh tế và tránh sa lầy. Việt Nam sa lầy ở Campuchia 10 năm, bị cấm vận, mất cả một thập niên phát triển trong khi các nước Đông Á vươn lên. Phép đo thiệt hại phụ thuộc vào thước đo nào được dùng. Nếu đo bằng hiệu quả tác chiến, Trung Quốc thua. Nếu đo bằng tác động dài hạn đến phát triển quốc gia, Việt Nam trả giá đắt hơn nhiều.
Nhìn lại từ hiện tại, cuộc chiến 1979 có điểm tương đồng đáng chú ý với xung đột Nga-Ukraine. Cả hai trường hợp đều có cường quốc đánh giá sai đối thủ, dẫn đến sa lầy ngoài dự kiến. Cả hai bên trong mỗi xung đột đều tuyên bố "thắng lợi" trong tuyên truyền. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng nằm ở khả năng biết dừng: Trung Quốc biết dừng đúng lúc, trong khi Nga không dừng được. Việt Nam năm 1979 giống Ukraine ở khía cạnh phòng thủ thành công trước một đối thủ lớn hơn. Trung Quốc năm 1979 giống Mỹ trong các cuộc chiến trừng phạt ngắn hạn - đạt đủ mục tiêu chính trị rồi rút, tránh sa lầy. Bài học lớn nhất từ so sánh này: một cuộc chiến giới hạn thành công đòi hỏi không chỉ sức mạnh quân sự mà còn kỷ luật chiến lược - biết khi nào nên dừng.
Kết quả này phần lớn xuất phát từ bất lợi cấu trúc khi hai bên sử dụng cùng mô hình chiến tranh.
Bất lợi cấu trúc khi đối đầu
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều xuất thân từ chiến tranh nhân dân, du kích phân tán, lấy bộ binh làm trụ cột, chấp nhận thương vong cao và đánh lâu dài. Không có bên nào "khắc chế" bên kia về học thuyết. Du kích không phải độc quyền của Việt Nam. Trung Quốc có kinh nghiệm kháng Nhật quy mô lớn, chiều sâu lãnh thổ rộng, dân số đông và chịu được thương vong cao. Nếu chiến tranh kéo dài, lợi thế nghiêng về Trung Quốc.
"Thiêu quân" chỉ hiệu quả khi đối phương nhạy cảm với tổn thất và có áp lực dư luận nội bộ. Trung Quốc 1979 không có áp lực dân chủ, kiểm soát thông tin chặt và sẵn sàng đổi thương vong lấy mục tiêu. Đòn tiêu hao không tạo áp lực chính trị đủ mạnh. Miền núi phía Bắc tuy dễ phòng thủ nhưng Trung Quốc quen địa hình tương tự, không giống rừng rậm Nam Bộ hay Trường Sơn. Không có "bất đối xứng" địa hình đủ lớn.
Khi hai bên dùng cùng học thuyết, bên nào lớn hơn và chịu đựng tốt hơn sẽ có lợi thế. Chiến lược hợp lý nhất của Việt Nam là không sập trận, không mất trung tâm và không cho Trung Quốc đạt thắng lợi quân sự rõ ràng.
Nhìn về phía trước, nếu đối thủ là Trung Quốc, toàn bộ "vũ khí tư duy" cũ đều mất tác dụng. Du kích không còn là lợi thế độc quyền vì Trung Quốc quen với chiến thuật này hơn cả Việt Nam qua kinh nghiệm kháng Nhật. Chiến lược tiêu hao không còn hiệu quả vì Trung Quốc chịu được thương vong cao hơn. Chiến tranh nhân dân không còn là vũ khí thần kỳ khi đối thủ có dân số lớn hơn, công nghiệp mạnh hơn và kiểm soát xã hội chặt chẽ hơn. Ý chí không còn là biến số quyết định khi đối phương không có áp lực dân chủ và kiểm soát thông tin tuyệt đối.
Tuy nhiên, nhận thức về những giới hạn này bị cản trở bởi cơ chế diễn ngôn đã ăn sâu.
Diễn ngôn và cơ chế duy trì
Việt Nam buộc phải "kể mình thắng" không phải vì dối trá mà vì bị kẹt trong thế không được phép nói khác. Trong hệ tư tưởng chiến tranh cách mạng, không thắng đồng nghĩa thất bại chính trị. Đặc biệt nguy hiểm khi quân đội vừa trải qua 30 năm chiến tranh, xã hội kiệt quệ và lãnh đạo cần chính danh. Sự thật chiến lược cần che giấu bao gồm: Việt Nam bị cô lập, phụ thuộc Liên Xô, sa lầy Campuchia và không đủ sức đối đầu Trung Quốc lâu dài. Nếu thừa nhận "chỉ là không thua", các câu hỏi nguy hiểm sẽ nổi lên về tình hình Campuchia và khả năng phòng thủ nếu Trung Quốc tái tấn công.
Mẫu hình lịch sử sâu xa của Việt Nam: còn tồn tại được coi là thắng lợi. Đây là cấu trúc tâm lý từ các cuộc kháng chiến trước Hán, Nguyên, Minh, Thanh. Năm 1979 chỉ là bản sao hiện đại. Ảo tưởng "thắng to" nguy hiểm vì đánh tráo khái niệm - không bị chiếm Hà Nội thành "đánh bại Trung Quốc", rút quân thành "tháo chạy". Nó nuôi ảo tưởng năng lực: tin rằng Trung Quốc đánh là thua, du kích là khắc chế tuyệt đối, trong khi Trung Quốc hiện nay không còn là PLA 1979 và Việt Nam không còn có lợi thế chiến tranh cách mạng. Quan trọng hơn, nó khóa khả năng cải cách - nếu đã thắng oanh liệt thì cải tổ quân đội, đổi học thuyết, nhìn nhận điểm yếu để làm gì?
Cả hai bên đều có diễn ngôn tuyên truyền riêng. Trung Quốc cũng tuyên bố "thắng lợi hoàn toàn" trong tuyên truyền nội bộ. Nhưng điểm khác biệt quan trọng: Trung Quốc tách được "tuyên truyền trong" với "học bài học thật". Họ vừa kể cho dân nghe câu chuyện chiến thắng, vừa tiến hành cải tổ quân đội toàn diện dựa trên nhận thức thất bại. Tài liệu PLA thừa nhận thương vong lớn và tác chiến kém, nhưng nhấn mạnh mục tiêu giới hạn, rút theo kế hoạch và đạt yêu cầu chính trị. PLA không tự nhận thắng lớn nhưng cũng không coi đó là thất bại. Việt Nam thì diễn ngôn thắng lợi dần trở thành chính sự thật được tin, ngăn cản việc rút ra bài học thực chất. PLA hiện nay hoàn toàn khác biệt so với PLA năm 1979, trong khi đó mô hình tư duy quân sự ở phía Việt Nam vẫn phần lớn giữ nguyên.
Diễn ngôn "thắng" không tồn tại vì nó đúng mà vì không có cấu trúc nào cho phép nó sai. Nhà nước Việt Nam hình thành từ chiến tranh thắng lợi chứ không từ bầu cử hay thỏa ước xã hội. Nếu làm mờ khái niệm "thắng", chính danh bị lung lay và chuỗi lịch sử bị đứt. Hệ thống giáo dục dạy kết luận, không dạy tranh luận, không cho phép thắng một phần hay thua chiến lược. Không có tầng lớp trung gian độc lập - học giả, nhà báo, think tank - để phá vỡ diễn ngôn vì các tầng này phụ thuộc chính trị và không có "không gian an toàn" để nói "ta không thua nhưng cũng không thắng". Mạng xã hội không tạo phản tư mà khuếch đại cảm xúc, đẩy "thắng" thành "thắng đậm", "đối phương ngu", "ta vô địch", cực đoan hóa ký ức lịch sử.
Nếu bỏ diễn ngôn "thắng", xã hội phải trả lời: ta mạnh ở đâu, yếu ở đâu? Vì sao sau "thắng" vẫn nghèo? Vì sao không tạo được elite? Vì sao phụ thuộc? Những câu hỏi này đe dọa trật tự hiện tại nên bị né tránh.
Lịch sử các nước khác cho thấy diễn ngôn có thể thay đổi, nhưng chỉ trong những điều kiện đặc biệt.
Các trường hợp xã hội thay đổi cách kể lịch sử
Xã hội bắt đầu kể lịch sử khác đi không phải vì giác ngộ đạo đức mà vì áp lực cấu trúc - khi "câu chuyện cũ không còn giúp nó tồn tại hay phát triển". Lịch sử cho thấy nhiều quốc gia đã trải qua quá trình này khi điều kiện cho phép.
Đức sau 1945 chuyển từ diễn ngôn "bị phản bội" sang "trách nhiệm tập thể". Chính danh mới dựa vào tái thiết và hội nhập châu Âu, không còn dựa vào vinh quang quân sự. Khi nền kinh tế phát triển mạnh và vị thế quốc tế được khôi phục, câu chuyện về quá khứ không còn cần được bảo vệ bằng mọi giá.
Nhật Bản từ bỏ dần diễn ngôn "giải phóng Á Châu" và dần thừa nhận "chiến tranh xâm lược". Nền kinh tế công nghệ trở thành nguồn tự hào quốc gia mới. Khi hiện tại đủ mạnh, quá khứ không còn cần được tô hồng. Quá trình này diễn ra chậm và không đồng đều, nhưng hướng đi tổng thể đã rõ.
Hàn Quốc sau 1987 tái đánh giá lại thời kỳ chế độ quân sự. Dân chủ và phát triển kinh tế tạo ra chính danh mới không phụ thuộc vào anh hùng hóa quá khứ. Thế hệ trẻ có sinh kế dựa vào kinh tế thị trường, không gắn với huyền thoại lịch sử, trở thành động lực cho sự thay đổi.
Các trường hợp này có điểm chung: chính danh không còn phụ thuộc vào quá khứ mà dựa vào tăng trưởng và năng lực quản trị hiện tại. Thất bại hoặc trì trệ ở hiện tại lớn hơn nỗi sợ mất mặt về quá khứ. Xuất hiện tầng lớp xã hội mới không sống nhờ diễn ngôn cũ. Có không gian xã hội cho phép "nói khác" với ranh giới tương đối rõ ràng. Thường có cú sốc - thua trận, khủng hoảng kinh tế, hoặc sụp đổ mô hình - buộc phải tái cấu trúc. Và cuối cùng, lịch sử dần trở thành công cụ học tập chứ không phải tôn giáo, cho phép so sánh bất lợi, thống kê tổn thất và đặt câu hỏi về trách nhiệm.
Nghiên Cứu Lịch Sử
Không có nhận xét nào