Đỉnh cao của sự Thống trị Độc đoán
Tài liệu nghiên cứu đặc biệt
2024
Đọc lại kỳ 1 và 2
Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 1
https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc.html
Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 2
https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc_0633885994.html
Trong chỉ ba thập niên, Đài Loan đã trở thành một trung tâm kinh tế năng động. Không ngạc nhiên, sự phát triển kinh tế sau chiến tranh của nó và vai trò nhà nước kiến tạo-phát triển do Quốc Dân Đảng-lãnh đạo, mà đã đóng trong việc chỉ huy sự biến đổi kinh tế của Đài Loan, đã mang lại cho chế độ độc đoán này tính chính danh thành tích to lớn. Như trong những hệ thống độc đoán khác nơi các quyền dân sự và chính trị của các công dân bị hiến tế trên bàn thờ phát triển kinh tế quốc gia, tính chính danh thành tích đã là một nguồn quan trọng của sự ủng hộ chính trị cho Quốc Dân Đảng.
Dưới sự cai trị độc đoán của QDĐ, Đài Loan đã đi từ một trong các nền kinh tế nghèo nhất trên thế giới để trở thành một trong những nước kiến tạo-phát triển đi đầu của châu Á. Trong các năm 1960 tốc đô tăng trưởng kinh tế trung bình của Đài Loan đã đạt gần 11 phần trăm một năm. Suốt các năm 1970 và các năm 1980, khi các ngành công nghiệp của Đài Loan bước vào các khu vực chế tạo high-tech, nền kinh tế Đài loan tiếp tục thông báo tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 8 phần trăm. Đặt điều này vào viễn cảnh so sánh, trong 1962 Đài Loan đã xếp hạng như một trong các nền kinh tế nghèo nhất trong thế giới đang phát triển, cùng vói Zaire và các nước hạ-Sahara khác. Trong thời kỳ từ 1962 đến 1986, Đài Loan nổi lên từ thứ 85 trên thế giới lên thứ 38 về mặt độ lớn của nền kinh tế. Tính bằng dollar, thu nhập trên đầu người ở Đài Loan đã đi từ US$50 trong 1952 trong đêm trước của sự cất cánh kinh tế của Đài Loan lên gần $5,000 trong 1987, tăng gần một trăm lần.
Khi nền kinh tế của Đài Loan trở nên giàu hơn, cuộc sống của nhân dân cũng đã thay đổi, trở nên hiện đại hơn. Sự sở hữu xe hơi, một chỉ số về xã hội hiện đại hóa-kinh tế, đã tăng hơn năm lần trong các năm 1970. Sự tiếp cận đến các báo hàng ngày và các tạp chí đã tăng gấp đôi trong thập niên đó, và sự kết nối điện thoại đã tăng 5-lần. Cấu trúc của nền kinh tế đã biến đổi. Tỷ lệ phần trăm của những người làm việc trong các ngành chế tác đã tăng hơn hai lần giữa năm 1953 và năm 1983, đạt gần một nửa lực lượng lao động. Trong khi đó phần của các công nhân nông nghiệp đã giảm đột ngột từ 55 phần trăm xuống chỉ còn 18 phần trăm. Xã hội Đài Loan đã trở nên ngày càng đô thị và trung lưu. Đồng thời, sự tiếp cận đến giáo dục đã mở rộng khi chính phủ phổ quá hóa giáo dục cấp một và cấp hai trong các năm 1960.
Quá trình hiện đại hóa Đài loan đặc biệt phi thường vì nó đã xảy ra nhanh đến thế nào. Để đặt kinh nghiệm của nó vào viễn cảnh so sánh, Hung-mao Tien, trong cuốn sách của ông Great Transition (Sự Chuyển đổi Vĩ đại), lưu ý rằng trong khi “hiện đại hóa của châu Âu và Bắc châu Mỹ đã xảy ra trong một thời kỳ của hai thế kỷ hay dài hơn,” ở Đài Loan “khoảng thời gian đó đã bị nén vào vài thập niên.”
Sự cất cánh kinh tế—bền vững và có tính biến đổi trong ba thập niên từ các năm 1950 đến các năm 1980—tại Đài Loan không ngạc nhiên đã là quan trọng cho vận may chính trị của QDĐ. Kết cục chính trị về mặt tính chính danh thành tích của QDĐ và sự ủng hộ chính trị cho chế độ, tuy vậy, đã không hạn chế ở chỉ các lợi ích của sự phát triển kinh tế tổng thể của Đài Loan. Ngoài sự tăng trưởng kinh tế tổng hợp từ các năm 1950 trở đi, nhà nước kiến tạo-phát triển do QDĐ-lãnh đạo cũng được công trạng vì sự thúc đẩy tăng trưởng với sự công bằng xã hội-kinh tế. Phân bố thu nhập ở Đài Loan thực sự đã trở nên bình quân hơn trong các năm 1960 và 1970 trong thời gian cất cánh công nghiệp của Đài Loan, chính xác trong thời kỳ khi chúng ta kỳ vọng các mức bất bình đẳng cao hơn, không phải thấp hơn. Thực ra, cho đến cuối các năm 1980, hệ số Gini (một số đo chuẩn về phân bố thu nhập) của Đài Loan đã lơ lửng quanh 0,3, đưa Đài Loan ngang với các nền kinh tế Bắc Âu bình đẳng nhất.
Việc tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng với tính công bằng có ý nghĩa chính trị tốt liên quan đến những triển vọng của QDĐ độc đoán cho sự sống sót chính trị, đặc biệt khi đối mặt với những căng thẳng sắc tộc tăng lên ở Đài Loan. Đặc biệt đáng lo ngại cho QDĐ là sự xuất hiện của một bản sắc dân tộc Đài loan giữa đa số người dân sống ở Đài Loan. Một cách cụ thể, đảng cầm quyền đã lo lắng về những căng thẳng sắc tộc sắp sôi, quay lại Sự cố 228 khét tiếng giữa thiểu số sinh tại đại lục và những người Đài loan địa phương, chiếm đa số dân cư. Khi QDĐ chạy trốn khỏi Trung Quốc và đến Đài Loan trong cuối các năm 1940, dòng chảy vào của những người Trung quốc đại lục (đến cùng với QDĐ) đã chiếm chỉ 13 phần trăm dân số của hòn đảo. Việc bảo đảm một sự phân bố công bằng các thành quả tăng trưởng đã chia cổ tức chính trị cho chế độ độc đoán bằng việc ngăn chặn sự tập trung sự giàu có kinh tế vào tay những người đại lục. Sự tăng trưởng với sự công bằng cũng làm trệch một cách phòng ngừa bất kể sự chỉ trích chế độ nào vì sự bất lợi của những người Đài loan địa phương để ưu ái những người Trung quốc đại lục gắn với chính phủ QDĐ.
Hãy nhớ lại rằng tại Nhật Bản, sự tăng trưởng với tính công bằng đã mở rộng cơ sở cử tri của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) bảo thủ trong các năm 1950 và đã củng cố sự hấp dẫn “bao quát” của nó. Tương tự, sự phát triển công bằng ở Đài Loan đã hỗ trợ sự ủng hộ chính trị cho chế độ QDĐ độc đoán. Như đã thế ở Nhật Bản sau chiến tranh, sự tăng trưởng với tính công bằng ở Đài Loan đã là kết quả của những sự lựa chọn chính sách cố ý của chính phủ. Chẳng hạn, cải cách đất đai trong đầu các năm 1950 đã không chỉ làm tăng năng suất nông nghiệp; nó cũng đã đóng góp cho một sự phân bố đất công bằng hơn cho các nông dân và các cơ hội kinh tế bằng việc phá hủy các tàn dư của hệ thống địa chủ thời thuộc địa. Chiến lược thúc đẩy các SME, hơn là các hãng lớn, đã hạ thấp các rào cản gia nhập cho các doanh nhân địa phương, mà đến lượt lại dẫn đến nhiều tính di động xã hội-kinh tế hơn giữa những người Đài loan. Sự đưa giáo dục phổ quát vào trong các năm 1960 đã đóng góp cho một lực lượng lao động lành nghề hơn và các cơ hội việc làm có lương cao hơn trên mọi lĩnh vực. Những cố gắng của QDĐ để làm nhẹ bớt sự bất bình đẳng to lớn cũng đã hiển nhiên trong các thời khắc khủng hoảng. Như chúng tôi đã mô tả sớm hơn, khi sự tăng vọt giá dầu OPEC cuối 1973 đã đe dọa lạm phát phi mã, chính phủ do QDĐ-lãnh đạo đã áp dụng một chính sách tiền tệ nghiêm ngặt và bảo thủ và đã phân bổ các trợ cấp từ các hãng sở hữu nhà nước để kiềm chế lạm phát tiêu dùng, bảo đảm khoảng cách giữa những người-có và những người-không-có không mở rộng ra.
Mặc dù chính phủ do QDĐ-lãnh đạo được công trạng vì đã tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế với tính công bằng ở Đài Loan sau chiến tranh, điều này không có nghĩa rằng nhà nước Đài loan là cái chúng ta gọi là một nhà nước phúc lợi vững chãi. Sự tăng trưởng với tính công bằng đã là kết quả của các chính sách kinh tế vĩ mô nhắm tới sự tăng trưởng, việc làm đầy đủ, và sự nâng cấp kỹ năng lao động. Trong khi đảng LDP ở Nhật Bản dân chủ đã tạo ra các chương trình phúc lợi xã hội phổ quát bắt đầu trong các năm 1960, các chính sách xã hội và những chương trình bảo trợ xã hội ở Đài Loan đã bị phân mảnh và được các bộ phận khác nhau của bộ máy quan liêu quản lý. Các chương trình phúc lợi xã hội đã không được tích hợp vào một nhà nước phúc lợi hào phóng, duy nhất. Các chương trình xã hội hiện hành khác hẳn nhau đã mang tính chọn lọc về những người thụ hưởng của chúng và phần lớn được tài trợ qua các sơ đồ đóng góp bảo hiểm, hơn là qua các quỹ chính phủ.
Tuy nhiên, các chương trình xã hội đã phục vụ một mục đích chính trị cho chế độ, vì chúng đã giúp duy trì sự thống trị độc đoán của QDĐ qua sự dùng các phúc lợi chọn lọc để lôi kéo hay duy trì các cơ sở ủng hộ chính trị quan trọng. Các chương trình phúc lợi chọn lọc, như chương trình bảo hiểm lao động, được cố ý mở rộng trong các thời khắc khủng hoảng chính trị đối với chế độ. Đấy là cách QDĐ mua chuộc các đối thủ chính trị tiềm năng, một chiến lược khủng hoảng và đền bù chọn lọc. Khi các phúc lợi xã hội được chính phủ mở rộng, chúng đầu tiên được mở rộng cho các cử tri chính trị của chế độ QDĐ, như các sĩ quan quân đội, binh lính, và các công chức. Các công nhân trong các hãng nhỏ hơn, các nông dân, và những người phụ thuộc của họ đã bị loại trừ khỏi sơ đồ chính sách xã hội cho đến các năm 1980 và 1990 khi Đài Loan đã dân chủ hóa. Các sơ đồ chính sách xã hội ban đầu đã nhắm mục tiêu đến những người là quan trọng cho sự sống sót của chế độ độc đoán.
Các thập niên sau các năm 1950 đã là thời hoàng kim của sự thống trị độc đoán của QDĐ ở Đài Loan. Song các sức mạnh của đảng không chỉ là một sản phẩm phụ-tự nhiên của thành tích kinh tế và tính chính danh thành tích của QDĐ. Sức mạnh QDĐ cũng liên quan nhiều đến các cố gắng có chủ ý của đảng để củng cố cơ sở chính trị của nó ở Đài Loan. Trong các năm 1970, QDĐ đã tích cực thay đổi hình thức tư cách đảng viên và thành phần của cả ban lãnh đạo đảng và công chức chính phủ. Đảng trở nên trẻ hơn về mặt tư cách đảng viên sau khi nó lập ra Ủy ban Thanh niên của đảng. Sự tăng trưởng kinh tế với tính công bằng ở Đài Loan cũng đã ngăn chặn sự tập trung của cải, mà phân tán sức mạnh kinh tế của một đối lập chính trị tiềm năng.
Thật quan trọng, QDĐ đã ngày càng và tích cực tuyển mộ những người địa phương sinh ở Đài Loan vào hàng ngũ đảng và bộ máy quan liêu chính phủ. Vào cuối các năm 1970, những phần đáng kể của ban lãnh đạo chính phủ cũng như ban lãnh đạo QDĐ đã gồm những quan chức địa phương Đài loan. QDĐ đã chủ ý “địa phương hóa” và “Đài Loan hóa” đảng để biến đổi hình ảnh của nó từ hình ảnh của một đảng đại lục lưu vong thành một đảng địa phương. Sự Đài Loan hóa đã mở rộng cơ sở ủng hộ chính trị của QDĐ. Nói cách khác, trong khi đảng áp dụng các chiến thuật độc đoán để đàn áp các kẻ thù của nó, nó cũng tích cực tạo ra sự ủng hộ giữa toàn thể công dân Đài loan.
Chiến thuật này về tạo ra sự ủng hộ chính trị bên trong Đài Loan đã đặc biệt rõ trong các cố gắng của QDĐ để hợp pháp hóa sự cai trị của nó qua các cuộc bầu cử địa phương. Trong 1966 chính phủ QDĐ đã sửa các quy tắc bầu cử để cho phép các cuộc bầu cử bổ sung cho các cơ quan lập pháp, trong khi các cuộc bầu cử trước đã chỉ là thủ thuật làm đẹp bề ngoài chính trị cho chế độ độc tài QDĐ. Phản ánh bản chất độc đoán của QDĐ, các cuộc bầu cử bổ sung bị hạn chế về quy mô, vì các đảng đối lập bị cấm dưới quân luật. Tuy nhiên, các ứng viên độc lập (tức là, không-QDĐ) có thể tham gia trong các cuộc tranh đua bầu cử bổ sung sau 1966.
Tuy vậy, những sự sửa đổi bầu cử của QDĐ không nên được nhầm lẫn với sự tự do hóa chính trị đích thực. Những sự thay đổi 1966 đã không phải là một sự báo trước về dân chủ hóa chính trị. Ngược lại, những cuộc bầu cử hạn chế là một công cụ được QDĐ dùng để tăng cường, không phải làm yếu, sự độc quyền của nó về quyền lực chính trị, một phần bởi việc tạo ra một hiệu ứng hào quang tích cực của việc đã “thắng” tranh đua bầu cử. Vì sự phát triển kinh tế nhanh của Đài Loan từ các năm 1950 trở đi và tính chính danh thành tích kinh tế của QDĐ, kết hợp với sự thực rằng các đảng đối lập bị cấm, khả năng của một nhà lập pháp độc lập, không-QDĐ được bàu trong các cuộc bầu cử bổ sung này đã rất thấp. QDĐ đã thắng tám trong mười một ghế trong các cuộc bầu cử bổ sung đầu tiên trong 1969. Nó cũng đã dễ dàng lướt qua các cuộc bầu cử lập pháp bổ sung 1972 và 1975, giành được 73% và 78% phiếu phổ thông một cách tương ứng, và giành được hầu hết các ghế tranh cử.
Các cuộc bầu cử lập pháp bổ sung đã không có ý định là các cuộc tranh đua tự do và công bằng, mà đúng hơn là một cơ hội cho QDĐ để củng cố quyền lực chính trị của nó qua lá phiếu. Các cuộc bầu cử hạn chế nhưng đều đặn đã cung cấp một tín hiệu rõ về sự ủng hộ của nhân dân cho chế độ. Các cuộc bầu cử địa phương cho các pháp quan và các thị trưởng cũng cung cấp một cơ chế phản hồi được thể chế hóa cho chế độ, kết nối QDĐ với các cộng đồng địa phương và kích hoạt thường lệ các chi bộ đảng địa phương của nó. Không ngạc nhiên, QDĐ đã phát triển một bộ máy chính trị mạnh khắp hòn đảo bởi vì các cuộc bầu cử này. Nó có được kinh nghiệm trong các cuộc bầu cử tranh đua, từ việc nuôi dưỡng và bổ nhiệm các ứng viên đến việc làm sâu sắc các ràng buộc bảo trợ chủ nghĩa. Nói cách khác, các cuộc bầu cử tranh đua thường xuyên đã cho đảng cầm quyền một lợi thế chiến lược và tổ chức áp đảo đối với đối lập, đến mức vào lúc một đảng đối lập chính thức xuất hiện ở Đài Loan trong các năm 1980, QDĐ đã là một đảng đã trải nghiệm và được luyện tập rồi trong việc chiến thắng các cuộc bầu cử.
Xã hội Đòi hỏi Khắt khe, Chính thể Chia rẽ
Như chúng ta đã thấy ở Nhật Bản Minh trị, hiện đại hóa mang lại những sự bất bình của chính nó. Từ các năm 1950 qua các năm 1970, nền kinh tế của Đài Loan đã tăng trưởng cực nhanh. Đồng thời sự thống trị độc đoán của QDĐ phát triển mạnh mẽ, cấu trúc kinh tế của Đài Loan được đa dạng hóa. Xã hội Đài Loan cũng được hiện đại hóa hơn: tầng lớp đô thị, biết chữ và có giáo dục, ngày càng trung lưu, và được công nghiệp hóa. Các nhà nước kiến tạo-phát triển không nhất thiết sinh ra các công dân dân chủ, nhưng một xã hội đang hiện đại hóa và một nền kinh tế đang phát triển cuối cùng đã gieo các hạt giống của các công dân đòi hỏi khắt khe hơn về chính trị.
Đài Loan của QDĐ đã không phải là ngoại lệ. Các nhóm lợi ích được hình thành trong thời gian hiện đại hóa của Đài Loan. Các hiệp hội nông nghiệp bắt đầu huy động về mặt chính trị trong các năm 1960. Trong thập niên tiếp, các hiệp hội công nhân công nghiệp, thương mại, và chuyên nghiệp cũng đã hình thành. Các nhóm rõ ràng về mặt chính trị hơn, như Hiệp hội các Quyền con người Trung quốc và Hiệp hội Nhân quyền Đài Loan, đã xuất hiện trong các năm 1970. Các tổ chức này đôi khi đã huy động chống lại chế độ QDĐ, nhưng bởi vì các cuộc phản kháng chính trị được tập trung trong các nhóm biệt lập đó đây ở Đài Loan, chúng đã bị chế độ độc đoán đàn áp dễ dàng. Các phong trào phản kháng lác đác đã không gây ra các mối đe dọa nghiêm trọng cho QDĐ lúc đó, mặc dù chúng báo trước một xã hội Đài Loan ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn, và một xã hội mà có lẽ không thể được cai trị theo cùng cách như trong quá khứ.
Chế độ đã đối mặt với một phong trào lao động tăng lên trong các năm 1960 và các năm 1970, khi nền kinh tế Đài loan được công nghiệp hóa hơn và các công nhân có được nhiều tiếng nói và sức mạnh lớn hơn. Mặc dù hầu hết công nhân công nghiệp được thâu-nạp vào Liên đoàn Lao động Trung quốc do chính phủ-trợ cấp và các công đoàn độc lập thì bất hợp pháp, những sự gián đoạn lao động trên sàn nhà máy và các cuộc biểu tình trên đường phố đã tăng đều đặn suốt các năm 1970. Trong 1963 đã có 20 tranh chấp lao động được ghi lại. Giữa 1971 và 1982, tuy vậy, chính phủ đã ghi lại gần 6.400 tranh chấp lao động, và trong riêng năm 1981, hơn 1.000 tranh chấp dính líu đến khoảng 7.000 công nhân đã xảy ra. Các công nhân ngày càng bất bình với tiền lương và các điều kiện làm việc của họ. Tuy vậy, các cuộc phản kháng và tranh chấp lao động đã không kích thích một phong trào lao động quy mô lớn. Cấu trúc công nghiệp của Đài Loan, bị các hãng quy mô nhỏ chi phối, đã có nghĩa rằng các cuộc phản kháng lao động nói chung được kiềm chế bên trong các hãng. Khu vực SME lớn cũng đã làm xói mòn những cố gắng để kích động hành động tập thể quy mô lớn hơn. Không giống ở Hàn Quốc, nơi hàng ngàn nhân viên trong các tập đoàn lớn đã làm cho việc huy động các cuộc phản kháng quần chúng dễ hơn, sự náo loạn công nhân ở Đài Loan có khuynh hướng bị phân mảnh và phân tán.
Các cuộc phản kháng lao động phân tán đã phản ánh xã hội dân sự đối lập tổng quát hơn ở Đài Loan độc đoán. Mặc dù xã hội Đài Loan đã ngày càng trở nên ngang bướng hơn trong các năm 1970 và 1980, và chính trị gây tranh cãi đã dứt khoát tăng lên, quy mô và thành phần của sự phản kháng đã không gây ra một mối đe dọa lớn nào cho sự sống sót của chế độ. Theo dữ liệu được Yun-han Chu báo cáo, số các phong trào phản kháng được ghi chép, như chúng ta có thể kỳ vọng, đã tăng đột ngột từ 1983 đến 1988, mặc dù con số thật của các cuộc phản kháng như vậy đã thực sự nhỏ. Trong 1983 đã chỉ có 175 cuộc phản kháng, trong số đó chỉ ba được coi là nhạy cảm về mặt chính trị. Sự tăng vọt về các phong trào phản kháng xã hội đã xảy ra trong 1987 và 1988, sau khi QDĐ bãi bỏ quân luật và nới lỏng sự bám lấy quyền lực độc đoán của nó, khi số các cuộc phản kháng đã nhảy lên 734 và 1.172, một cách tương ứng. Tuy nhiên, tuyệt đại đa số các cuộc phản kháng xã hội giữa 1983 và 1988 đã có ít hơn một trăm người tham gia. Chỉ khoảng một phần tư các cuộc phản kháng nhắm đến chính phủ QDĐ trung ương, còn đa số đã tập trung sự chỉ trích của chúng vào các nhà chức trách địa phương.
Như thế, trong khi sự huy động từ dưới lên đã báo hiệu một xã hội ngày càng đòi hỏi khắt khe ở Đài Loan, sự phản kháng đối lập đã không phải là tín hiệu mạnh nhất và báo điềm gở nhất rằng chế độ đang nới lỏng sự bám chặt quyền lực chính trị của nó. Sự tương phản giữa Đài Loan và Hàn Quốc (tiêu điểm của chương 5) về mặt kích thước và quy mô của sự huy động chính trị gây tranh cãi là đáng kể. Trong khi hàng trăm ngàn người biểu tình xuống đường ở Seoul trong 1987 đòi sự chấm dứt chủ nghĩa độc đoán ở Hàn Quốc, QDĐ đã chẳng bao giờ đối mặt với sự huy động từ dưới lên mạnh như vậy.
Tuy nhiên, QDĐ đã có nhận được các tín hiệu mạnh rằng sự bám chặt quyền lực độc đoán một thời không thể tấn công được của nó đang yếu đi. Nó đã trải nghiệm một tín hiệu rõ, có tiềm năng báo điềm gở hơn trong lĩnh vực quốc tế. Sự chia rẽ Trung-Soviet trong đầu các năm 1960, mà đã thấy chế độ ĐCSTQ rời xa liên minh Chiến tranh Lạnh của nó với Liên Xô, cung cấp một sự thúc đẩy cho Hoa Kỳ và Trung Quốc để bắt đầu một quá trình nối lại mối quan hệ. Điều này là tai họa cho chế độ QDĐ ở Đài Loan. Trong 1971 LHQ chính thức chấm dứt công nhận Đài Loan như chính phủ hợp pháp của cái gọi là Trung Quốc tự do. Trong vài năm tiếp, các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc được cải thiện từ từ. Trong tháng Mười Hai 1978 chính quyền Carter đã tìm cách thiết lập các mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do ĐCSTQ-lãnh đạo, phản ánh một sự thay đổi đáng kể về các chiến lược ngăn chặn Chiến tranh Lạnh của nước Mỹ. Hai sự kiện này—LHQ chấm dứt công nhận ROC và sự bình thường hóa các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc—về cơ bản đã làm mất tính hợp pháp của các yêu sách của chế độ QDĐ để cai trị toàn bộ Trung Quốc.
Tuy vậy, Hoa Kỳ đã không bỏ rơi hoàn toàn Đài Loan ngay cả sau khi chính thức hóa quan hệ ngoại giao của nó với Trung Quốc cộng sản trong tháng Giêng năm 1979. Hành động quốc hội đã bảo đảm một sự đảm bảo an ninh tiếp tục khi Quốc hội thông qua Đạo luật các mối Quan hệ Đài Loan 1979. Mặc dù Hoa Kỳ không còn chính thức công nhận chính phủ QDĐ ở Đài Loan nữa, Đạo luật các mối Quan hệ Đài Loan đã báo hiệu sự ủng hộ tiếp tục gián tiếp cho Đài Loan. Sự hiểu ngầm là sự cam kết an ninh của nước Mỹ với Đài Loan phụ thuộc vào việc nó tiếp tục là pháo đài của một “Trung Quốc Tự do,” khác biệt với chế độ cộng sản tại Trung hoa đại lục. Nói cách khác, trong khi Hoa Kỳ đã không thể gây áp lực chính trị trực tiếp lên Quốc Dân Đảng để dân chủ hóa, siêu cường bảo trợ trước kia của nó có thể—và cuối cùng đã—áp dụng áp lực bên ngoài gián tiếp lên chế độ để tự do hóa hệ thống chính trị.
Về đối nội, sự bình thường hóa các mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã tạo ra những áp lực chính trị cho chế độ QDĐ. Sự loại trừ Trung Hoa Dân Quốc (ROC) ra khỏi LHQ đã làm xói mòn yêu sách của QDĐ để là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc, làm cho chế độ QDĐ về cơ bản lỗi thời, không có raison d’être (lý do tồn tại) của nó để ở Đài Loan trước tiên. QDĐ bây giờ thực sự là một chế độ ngoài cuộc ở Đài Loan. Sự cô lập ngoại giao của nó đã lại kích động chính trị bản sắc, đào sâu sự chia tách sắc tộc và bản sắc trong phong cảnh chính trị của Đài Loan. Vào cuối những năm 1970, sự kết nối giữa bản sắc Đài Loan và đối lập dân chủ giữa những người Đài loan đã là rõ ràng về mặt chính trị. Các nhà hoạt động Đài loan đã ngày càng tập trung sự tấn công của họ vào bản chất độc đoán của QDĐ đại lục.
Chính trị bản sắc đã gây ra một mối đe dọa nghiêm trọng cho chế độ độc đoán, nhất là khi các sự chia tách bản sắc và chế độ tăng cường lẫn nhau. Trong năm 1975, các trí thức Đài loan đã công bố số đầu tiên của Tạp chí Chính trị Đài Loan (Đài Loan Chính Luận-臺灣政論). Chính luận đã là một diễn đàn cho các tiếng nói đối lập Đài loan, đặc biệt các trí thức địa phương chỉ trích chế độ Quốc Dân Đảng. Nó công bố những bài báo và những ý kiến về sắc tộc Đài loan, tăng cường một bản sắc chính trị Đài loan rõ rệt ngược lại với chế độ QDĐ đại lục. Việc Chính luận dùng “Đài Loan” trong tiêu đề của tạp chí, hơn là “Cộng hòa Trung Hoa,” được QDĐ cảm nhận như một sự cố ý bôi nhọ những yêu sách của đảng cầm quyền để cai trị toàn bộ Trung Quốc.
Chính luận đã ra chỉ được năm số trước khi các nhà kiểm duyệt chính phủ đóng cửa nó. Các trí thức nhà hoạt động Đài loan tuy nhiên đã tiếp tục huy động. Sau những cuộc bầu cử địa phương năm 1977, các ứng viên không-QDĐ đã lên án đảng cầm quyền gian lận bầu cử. Cuộc bầu cử đã thúc giục những người biểu tình xuống đường tại thị trấn Chungli (Trung Lịch), lên đỉnh điểm trong một cuộc đối đầu với bộ máy an ninh quốc gia. Những người biểu tình bị chế độ đàn áp, và Sự cố Chungli đã kết tinh lại trong sự hình thành phong trào tangwai (黨外-đảng ngoại-ngoài đảng) đối lập.
Là quan trọng để phân biệt giữa cái tangwai đã là và không là. Tangwai, mà theo nghĩa đen là “ngoài đảng,” đã là một liên minh lỏng lẻo của các chính trị gia và các trí thức bất đồng chính kiến Đài loan phản đối chế độ QDĐ độc đoán. Các chính trị gia tangwai tranh đua các cuộc bầu cử như những ứng viên độc lập không-QDĐ nhưng đã không có khả năng để hình thành một đảng hay liên minh chính trị dưới quân luật. Các nhà hoạt động tangwai đã không phải là một phong trào quần chúng, mà đúng hơn là một nhóm elite trí thức. Họ đã có tính lật đổ về mặt chính trị nhưng không phải là đội tiên phong của các cuộc biểu tình quy mô lớn.
Trong tháng Tám năm 1979 các nhà hoạt động tangwai bất đồng chính kiến đã ra mắt tạp chí Formosa (美麗島-Mỹ Lệ Đảo). Giống Đài Loan Chính luận, tạp chí đã đăng các bài chống-QDĐ và khích động đối lập của chế độ giữa các elite tri thức của Đài Loan. Hơn nữa, Formosa đã liên kết rõ ràng các sự chia tách bản sắc và chế độ giữa các nhà hoạt động; để là người Đài loan là người chống-độc đoán, và như thế chống-QDĐ. Giống Chính luận trước nó, tên của tạp chí được chọn để phản ánh một lập trường lật đổ về mặt chính trị. Formosa, mà trong tiếng Bồ Đào nha có nghĩa là “hòn đảo xinh đẹp,” thực sự đã là tên thuộc địa được châu Âu đặt cho Đài Loan, và các nhà hoạt động tangwai đã chiếm đoạt nó như một sự lăng nhục trực tiếp đối với chế độ QDĐ. Trong tháng Mười Hai 1979 văn phòng Formosa trong tỉnh miền nam Kaohsiung (Cao Hùng) đã tổ chức một cuộc mít tinh nhân quyền đồ sộ. Cảnh sát và những người biểu tình đã đụng độ vào ngày 10 tháng Mười Hai. Nhiều người đã bị thương và các nhà lãnh đạo biểu tình đã bị bỏ tù. Ngay sau cuộc đối đầu, các nhà lãnh đạo Formosa bị nhắm mục tiêu, bị bố ráp, và bị bắt. Vài trong số họ bị đánh nặng nề trong khi bị giam giữ. Những người khác bị lưu đày.
Trong năm 1980 một tòa án quân sự, bị chế độ QDĐ kiểm soát, đã phán quyết rằng các bị can phạm tội mưu toan lật đổ chính phủ, không phải không giống các biên tập viên Đài Loan Chính luận trước họ. Giống các nhà lãnh đạo của Chính luận, các nhà lãnh đạo Formosa đã bị những bản án hà khắc, kể cả tù chung thân cho một số người. Sự cố Kaohsiung đã xác nhận lại sự sẵn lòng của Quốc Dân Đảng để dùng bạo lực cũng như các tòa án để cản trở bất cứ sự đối lập nào đối với đảng cầm quyền. Sự cố đã trở thành một biểu tượng mạnh về sự kháng cự Đài loan đối với chế độ Quốc Dân Đảng, tạo ra nhiều đà hơn cho các chính trị gia và những nhà bất đồng tangwai.
Mặc dù QDĐ đã có được một thời hoàng kim của sự thống trị chính trị suốt đầu các năm 1980, những cú xóc chính trị trên con đường trong mặt trận đối nội và quốc tế đã báo trước một tương lai chính trị ít an toàn hơn. Các tín hiệu rằng đảng đã bắt đầu vượt quá đỉnh điểm quyền lực của nó đã trở nên rõ hơn trong thời kỳ này, và đặc biệt trong vũ đài bầu cử, mơi QDĐ đã có được những lợi thế đáng kể trên đối lập tangwai. Cuộc bầu cử đầu tiên sau Sự cố Chungli và sự bố ráp Kaohsiung 1979 là những cuộc bầu cử bổ sung 1980 cho Viện Lập pháp, mà khoảng một phần tư số ghế (97) được tranh giành. QDĐ đã giành được 82 phần trăm ghế tranh cử trong cơ quan lập pháp với 72 phần trăm phiếu phổ thông. Tuy vậy, các ứng viên không-QDĐ đã làm ăn tốt đáng ngạc nhiên, đặc biệt khi xét rằng những ứng viên độc lập không có các lợi thế nguồn lực và tổ chức mà các ứng viên QDĐ đương nhiệm đã có.
Một chiến thắng dứt khoát cho chế độ cầm quyền, cuộc bầu cử 1980 tuy nhiên đã gây rắc rối cho QDĐ. Đặc biệt nổi bật và đáng lo ngại là phần phiếu phổ thông của nó đã giảm từ 78 phần trăm trong 1975 xuống 72 phần trăm trong 1980. Thực ra, cuộc bầu cử 1980 đã là một điểm ngoặt trong sự thống trị bầu cử của QDĐ. Sự được lòng dân của đảng cầm quyền đã tiếp tục giảm suốt các năm 1980, xuống dưới 60 phần trăm trong 1989.
Các cuộc bầu cử địa phương trong nửa đầu các năm 1980 cho thấy một hình mẫu tương tự. Trong khi QDĐ tiếp tục được phiếu rất tốt trong các cuộc bầu cử bổ sung hạn chế, các kết quả bầu cử cho các ứng viên không-QDĐ tiếp tục cải thiện khi sự ủng hộ cho các ứng viên đối lập tangwai đã tăng. Trong các cuộc bầu cử địa phương 1981, các ứng viên QDĐ đã giành được đa số ghế tranh cử, mặc dù các ứng viên không-QDĐ, và đặc biệt những người liên kết với tangwai, có kết quả khá hơn họ đã có trong bất kể cuộc tranh đua trước nào. Các nhà lãnh đạo tangwai có tiếng như Trần Thủy Biển (mà cuối cùng được bàu một cách dân chủ như tổng thống Đài loan trong 2000) và các nhà hoạt động khác, nhiều trong số họ trở thành các chính trị gia DPP có tiếng trong các năm 1990, đã thành công giành được các cuộc bầu cử cho các ghế trong hội đồng thành phố Đài Bắc, cho các vị trí hành pháp quận, và cho các ghế trong Hội đồng Tỉnh.
Các ứng viên tangwai tiếp tục cải thiện sự xuất hiện của họ trong những cuộc tranh đua tiếp sau. Trong các cuộc bầu cử Hội đồng Tỉnh 1985, hơn một nửa các ứng viên tangwai ứng cử đã giành được ghế. Cùng năm đó, tất cả các ứng viên tangwai ứng cử trong các cuộc bầu cử hội đồng thành phố Đài Bắc đã thắng các khu vực bầu cử của họ. Nói cách khác, mặc dù QDĐ đã vẫn chiếm ưu thế về mặt chính trị, hoàn toàn không sự đe dọa trực tiếp nào đối với sự bám lấy quyền lực của nó, sự tăng trưởng từ từ và không thể đảo ngược trong sự ủng hộ cho các ứng viên tangwai đã là đáng lo ngại cho đảng cầm quyền. Như chúng tôi đã giải thích trong các chương dẫn nhập cho cuốn sách này, các tín hiệu bầu cử cung cấp thông điệp rõ ràng nhất có thể rằng đảng cầm quyền đương nhiệm đã vượt qua đỉnh điểm quyền lực của nó và rằng QDĐ sẽ phải thích nghi nếu nó muốn tiếp tục phát đạt về mặt chính trị.
Còn tiếp kỳ 4
Không có nhận xét nào