Header Ads

  • Breaking News

    Vài nét về Học viện Quốc Gia Hành Chánh thời Việt Nam Cộng Hòa 1952 đến 1975

    (viết theo ký ức riêng) 

    Lê Nguyễn 

    2016 – 19.5.2026

    (có chỉnh sửa, bổ sung nhiều chỗ)

    Trong phần bình luận bài viết trước, bạn Triet To Minh đề nghị tôi có bài viết về Học viện Quốc gia Hành chánh (Sài Gòn), nơi xuất thân của tôi, và cũng là nguyên nhân đưa tôi “lên bờ xuống ruộng” sau tháng 4.1975. 

    Xét thấy chuyện này cũng còn có ích cho nhiều bạn trẻ, thay vì trả lời riêng cho bạn Triet To Minh, tôi xin đăng lại bài viết đã 10 năm, nay được chỉnh sửa và bổ sung ít nhiều, để các bạn tùy nghi tham khảo.

    ***

    Trường thành lập vào năm 1952 tại Đà Lạt, lúc đầu có tên là “Trường Quốc gia Hành chánh”, một năm sau chuyển về Sài Gòn, trụ sở ở đường Alexandre de Rhodes gần dinh Độc lập. Kể từ đó mới kể là khóa 1, khóa đầu tiên sau này được anh em gọi là “khóa Đà Lạt”. Những khóa đầu chưa có điều kiện thi vào phải có bằng Tú tài toàn phần, một số không nhỏ sinh viên là những công chức, vì thế, tuổi đời của các vị này cách biệt khá xa so với các khóa đàn em, từ khóa 5, khóa 6 trở về sau. 

    Những năm thuộc thập niên 1950, trường chưa có ban Cao học, chỉ có 3 ban chánh: ban Giám sự, ban Đốc sự, và ban Cao nguyên. Khi thi vào trường, chưa phân ban Giám sự và Đốc sự, sang năm thứ 2, ai chọn học về Kinh tế-Tài chánh thì ra trường với ngạch Giám sự, ai chọn học về Hành chánh, Luật pháp thì ra trường với ngạch Đốc sự. Hai ngạch này ngang nhau, chỉ khác là ở chỉ số lương tột bậc (plafond), ngạch Giám sự kém vế hơn, chỉ 1080, còn ngạch Đốc sự đến 1.160, gần ngang với chức Đại sứ trong lãnh vực chính trị, và Đại tướng trong quân đội (chỉ số chức vụ 1.200). 

    Trong nửa đầu thập niên 1950, khi tình trạng an ninh còn ổn định, các Giám sự được bổ làm việc ở trung ương, chủ yếu là 2 bộ Kinh tế và Tài chánh; các Đốc sự về địa phương giữ các chức vụ Quận trưởng, Phó Quận trưởng, Trưởng ty (như Giám đốc sở ngày nay). 

    Ban Cao nguyên là ban học đặc biệt dành sự ưu đãi cho các thành phần sắc tộc thiểu số như: người Khmer, người Chăm, người bộ tộc Tây nguyên, thường chỉ cần bằng Trung học Đệ nhất cấp là thi vào được. Những người tốt nghiệp ban Cao nguyên ra trường với ngạch Tham sự (ngạch B1). 

    Khoảng đầu thập niên 1960, ban Cao nguyên bị bãi bỏ, mọi người thi vào ban Đốc sự với điều kiện như nhau.

    “Năng lực hành chánh” là một lớp học đêm dành cho các nhân viên hành chánh ngạch Thư ký đang tại chức (thư ký hành chánh hạng B2, thư ký đánh máy hạng B3), không phải là một ban chánh thức của HVQGHC. Những người có bằng tốt nghiệp lớp này thường được thăng một trật và có thể được bố trí vào những công việc khá hơn.

    Năm 2016, trang Wikipedia có một nhầm lẩn rất lớn khi cho rằng HVQGHC dời về số 10 Trần Quốc Toản (đường 3 tháng 2, nay là Học viện Hành chánh Quốc gia) vào năm 1958. Kỳ thực, vào những năm đầu thập niên 1960, giữa chính phủ VNCH mà đại diện là HVQGHC và trường Đại học Michigan có hiệp định hợp tác, chủ yếu là Michigan hỗ trợ trường về nhiều mặt. 

    Với sự yểm trợ kinh phí của Michigan, HVQGHC được xây mới trên đường Trần Quốc Toản, cạnh một bãi rác to đùng. Khi chúng tôi thi đỗ vào khóa Đốc sự 10, khoảng tháng 6.1962, thì HVQGHC đang ở vào giai đoạn hoàn chỉnh. Lúc đó, nơi đây là cơ sở đại học “hoành tráng” nhất miền Nam, vì đến năm 1962, hầu như các trường đại học khác còn sử dụng trụ sở cũ (mãi sau này, trường Đại học Y khoa mới được cất mới)

    Chúng tôi vào học được khoảng 1-2 tháng thì trường mới hoàn chỉnh hẳn phần xây dựng, đón Tổng thống Ngô Đình Diệm đến khánh thành. Ông là cựu học sinh trường Hậu bổ, tiền thân của HVQGHC, nên dành nhiều mối quan tâm cho trường.

    - Một thời gian sau khi Ban Cao Nguyên bị bãi bỏ, Ban Tham sự được thành lập vào khoảng năm 1963-1964 (khóa 1 Tham sự ra trường khoảng năm 1965)

    - Ban Cao học Hành chánh, đến năm 1965 mới có khóa đầu tiên. Đến năm 1973, học viện mở thêm khóa Cao học Ngoại giao, đào tạo Tham vụ ngoại giao các sứ quán.

    Từ đây trở xuống, chỉ xin nói riêng về ban Giám sự và ban Đốc sự, về sau hợp nhất thành ban Đốc sự, là ban chánh thức đào tạo đến 22 khóa sinh viên:

    ĐIỀU KIỆN THI VÀO:

    - Có tối thiểu bằng Tú tài toàn phần 

    - Công chức không có bằng Tú tài, nhưng đang ở ngạch Tham sự với ít nhất 3 năm thâm niên công vụ.

    Từ khóa Đốc sự 8 trở đi, với chỉ tiêu nhận vào 100 sinh viên/khóa, số người dự thi vào khoảng trên dưới 3.000, riêng khóa 17 (1969) là “khóa đúp”, tuyển vào 200 sinh viên, và chỉ riêng khóa này thôi.

    CHƯƠNG TRÌNH THI:

    - Một bài luận bất kỳ đề tài nào, hệ số 4 (có năm trường cho đề tài “Luận về nạn tham nhũng”. Riêng khóa 10 của tôi (năm 1962), đề tài luận về câu “Cứu cánh biện chính cho phương tiện” của người Mác-xít (La fin justifie les moyens)

    - Một bài Sử Địa hệ số 3

    - Một bài dịch Anh hay Pháp, hệ số 2

    Chương trình thi này phù hợp với học sinh ban C (văn chương, sinh ngữ) bậc trung học, có lẽ vì vậy mà một chú bé học sinh non choẹt 18 tuổi, mới đỗ Tú tài như tôi, quật ngã được mấy ngàn sĩ tử, trong đó không ít người là đàn anh, đàn chị đã mài đũng quần trên ghế đại học (tự do) vài ba năm

    CHƯƠNG TRÌNH HỌC:

    Chính quyền và ban giảng huấn thời kỳ ấy quan niệm rất đúng: hành chánh là giai đoạn cuối cùng của việc thi hành luật pháp, người công chức hành chánh phải hiểu rõ luật pháp để thi hành cho đúng. Vì thế HVQGHC giống như một trường luật thứ 2, học gần như toàn bộ những bộ luật được dạy ở trường luật như: luật Hành chánh, luật Thương mại, Dân luật, Hình luật, Công pháp Quốc tế, Thuế pháp…. 

    Về kinh tế, tài chánh, chúng tôi được dạy Kinh tế Đại cương (sách của Samuelson) (người dạy là giáo sư Trần Văn Kiện, sau có làm Bộ trưởng Tài chánh), Phát triển Kinh tế (Giáo sư Nguyễn Như Cương, sau có làm Bộ trưởng Kinh tế), Tài chánh học, Tiền tệ và Ngân hàng, Kinh tế Quốc tế, Kế toán hành chánh ….

    Mỗi năm học, sinh viên học khoảng 25-30 môn học khác nhau. Nhiều người thuộc phe thắng cuộc cứ nghĩ là chúng tôi bị nhồi sọ về chính trị dữ lắm, thực ra mỗi tuần lễ, chúng tôi chỉ có mỗi một giờ “Thời sự chính trị”, ở đó, một vị giảng viên (ông Phạm Ngọc Ấn, những năm 1962-1963) đến làm công việc “đọc báo dùm bạn”, kể cho chúng tôi nghe những diễn biến thời sự trong và ngoài nước tuần qua. Ngoài ra, những gì chúng tôi học chẳng có tí chính trị nào cả (tất nhiên chính trị hiểu theo nghĩa hẹp). Môn Chính trị học do luật sư Vương Văn Bắc phụ trách cũng chỉ dạy về các nhà lý thuyết chính trị phương Tây như như Machiavel, Locke …

    Theo nguyên tắc, sinh viên thi rớt trong kỳ lên lớp phải ở lại khóa sau, nếu rớt lần thứ hai (ở khóa sau) thì không được tiếp tục học nữa. Một người bạn cùng khóa với tôi, anh LQC, sau là một dân biểu Quốc hội VNCH, một nhà báo nổi tiếng sau 1975, rơi vào trường hợp này.

    Lên năm thứ hai, sinh viên được chọn một trong 2 ban: Hành chánh và Kinh tế-Tài chánh, song khi ra trường, có chung ngạch Đốc sự, từ khóa 9 trở đi, không còn ban Giám sự nữa

    HỌC BỔNG:

    - Từ khóa đầu (1952) đến khóa 8 (1960), học bổng 2.000 đ/tháng

    Làm một bài toán đơn giản: với tiêu chuẩn một tô hủ tíu giá 4 -5 đ thì khoản học bổng này ăn được 400 - 500 tô hủ tíu

    - Từ khóa 9 (nhập học năm 1961) trở đi, học bổng mỗi tháng 1.500 đ

    Thời ông Diệm, chỉ 2 trường Đại học Sư phạm và QGHC là có được học bổng cao nhất, 2.000 đ và 1.500 đ/tháng, trường Cao đẳng Kỹ thuật Phú Thọ chuyên đào tạo Kỹ sư chỉ có 800 đ học bổng/tháng.

    - Công chức chính ngạch thi đỗ vào HVQGHC được hưởng trọn lương trong suốt thời gian học, chỉ trừ phụ cấp chức vụ (tất nhiên).

    TỐT NGHIỆP:

    *Từ khóa 8, khóa 9, (ra trường vào những năm 1963-1964), số người tốt nghiệp làm việc ở trung ương rất ít, hầu hết phải về địa phương, do các tỉnh lúc bấy giờ rất thiếu viên chức cấp Phó Quận, Trưởng ty; nhiều Ty, Quận phải sử dụng công chức ngạch Tham sự (B1), thậm chí Thư ký hành chánh (B2) làm Phó Quận trưởng hay Trưởng Ty.

    *Việc tốt nghiệp và chọn nhiệm sở diễn ra rất công khai và công bằng, dựa vào danh sách và thứ hạng thi tốt nghiệp của mỗi người. Đến ngày chọn nhiệm sở, các sinh viên tốt nghiệp tập trung tại Bộ Nội vụ, ở đó, có một bảng kê số nhiệm sở phân phối ở mỗi tỉnh, mỗi người, lần lượt từ người đỗ thủ khoa trở xuống, chọn nhiệm sở cho mình. Tất nhiên, ai đỗ cao thì được chọn nhiệm sở tốt, tỉnh gần, “an ninh” hơn, ai đỗ chót, lãnh nhiệm sở chừa lại cuối cùng cho mình. Mọi chuyện vận động, chạy chọt không có đất sống trong cách chọn nhiệm sở này. 

    (Xin mở ngoặc để nói thêm về chuyện này: hàng năm, các tỉnh gửi về Bộ Nội Vụ nhu cầu bổ sung nhân viên ngạch Đốc sự, tất nhiên, thường thì CẦU rất cao, mà CUNG thì có giới hạn, Bộ Nội vụ chỉ có thể cung cấp cho các tỉnh số sinh viên vừa tốt nghiệp trong năm. Năm 1965, khóa ĐS 10 tôi học tốt nghiệp 87 người, hầu hết được cử về các tỉnh)

    * Một điểm tích cực nữa của chế độ công vụ xưa: công chức phải đi vùng xa, vùng sâu (theo cách nói ngày nay), sau hai năm, được ưu tiên xin về các địa phương gần, ví dụ khi ra trường đậu thấp, họ phải chọn Phú Bổn, Quảng Đức, Phước Long ... (xa, bất an ninh), sau hai năm, họ được xin và cho về các tỉnh gần, an ninh như Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Định Tường ... Bộ Nội vụ có nhiệm vụ cứu xét ưu tiên các trường hợp này, chỗ khuyết họ để lại dành cho các khóa đàn em mới tốt nghiệp. 

    Ngày chúng tôi mới ra trường năm 1965, có một câu “thiệu” vui về các tỉnh mà sinh viên mới ra trường sợ nhất: tam Kiến, nhị Phước, nhất Hậu - Chương. Tam Kiến là Kiến Phong (Cao Lãnh), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Hòa (Bến Tre), nhị Phước là Phước Long và Phước Thành, Hậu là Hậu Nghĩa, Chương là Chương Thiện

    * Trước 1963, ông Diệm rất quan tâm đến HVQGHC. Từ khóa 8 (tốt nghiệp năm 1963) trở về trước, sau khi tốt nghiệp, sinh viên mặc complet trắng, được xe buýt đưa vào Dinh Độc lập cho cụ Diệm nói chuyện. Cụ nói với họ cả buổi, dặn dò đủ chuyện (có lẽ cụ nhớ về trường Hậu Bổ của cụ), điếu thuốc vừa tàn phân nửa, cụ đã dụi và đốt điếu khác, cứ thế mà cái gạt tàn đầy ắp. Cụ còn quan niệm rằng sinh viên QGHC phải “văn võ toàn tài”, phải làm Quận trưởng trong thời chiến, chứ không phải Phó QT, nên từ khóa 8 trở về trước, anh em sinh viên tốt nghiệp phải học quân sự ở trung tâm huấn luyện Đồng Đế, Khánh Hòa, là chỗ huấn luyện gian khổ, hóc búa nhất miền Nam lúc bấy giờ.

    * Sau khi ông Diệm đổ, từ khóa 9 trở đi (tốt nghiệp năm 1964), sinh viên tốt nghiệp được gửi đi học trọn khóa SVSQ Thủ Đức, khi ra trường, quân số thuộc Bộ Quốc Phòng, được đương nhiên biệt phái ngoại ngạch về Bộ Nội vụ và các bộ khác. 

    * Một thông lệ hay của HVQGHC: mỗi khóa, có hai người đỗ thủ khoa, một người ban Hành chánh , một người ban Kinh tế Tài chánh. Hai người này đương nhiên được học bổng học tiến sĩ tại Mỹ. Trước tiên, họ sang Mỹ lấy Master (Cao học), về dạy lại học viện, khoảng 2 năm sau lại trở qua Mỹ lấy PhD (tiến sĩ). Hai người bạn cùng khóa của tôi là Cao Thị Lễ và Đỗ Quý Sáng ở vào trường hợp này. Một số bạn khóa 17 là học trò của chị Lễ khi chị vừa xong Master, quay trở về trường .

    * Xin mở dấu ngoặc nói về trường hợp “độc nhất vô nhị” của chị Cao Thị Lễ:

    - Trước khi thi vào HVQGHC, chị chưa có bằng Tú tài 2, do là công chức ngạch Tham Sự (B1), có trên 3 năm thâm niên công vụ nên đủ điều kiện dự thi. Trong kỳ thi tuyển vào khóa 10 (1962), chị đỗ thủ khoa, vượt lên hơn 3.000 thí sinh khác! Tôi gọi là độc nhất vô nhị vì trong kỳ thi đó, chị Lễ là một thí sinh chỉ có bằng Tú Tài 1 (chị rớt Tú tài 2 kỳ 1, 2 tháng sau, mới đỗ Tú tài 2) mà đã “đè” hơn 3.000 thí sinh có bằng Tú Tài 2, thậm chí nhiều người đã có vài chứng chỉ Đại học

    - Trong suốt các kỳ thi lục cá nguyệt (mỗi năm 2 lần) cho đến kỳ thi tốt nghiệp, chưa bao giờ chị “rớt” xuống hạng nhì, luôn chiếm thứ hạng cao nhất.

    - Sang Mỹ, chị làm giáo sư trường Đại học Georges Mason ở bang Virginia, đã về hưu từ lâu

    -Trong khóa 10, chị Lễ cao tuổi nhất, vào trường năm 28 tuổi, tôi thấp tuổi nhất, nhập học năm 18 tuổi. Chị được anh chị em cùng khóa gọi là chị Hai. Tháng 10.2014, khi sang thăm bang Virginia, tôi có hạnh phúc được đến ở nhà của chị. 

    * Sinh viên tốt nghiệp HVQGHC sau này giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền VNCH, ví dụ:

    - Ông Nguyễn Đình Xướng, cựu sinh viên khóa I, Quận trưởng Cai Lậy (Định Tường), Tỉnh trưởng Vĩnh Bình thời ông Diệm, sau là Tổng Thư ký Bộ Nội vụ, cuối cùng là Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống. Chính ông Xướng là người đã đặt tên cho “Bệnh viện Vì Dân”, nay là bệnh viện Thống Nhất, do phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xây dựng và khánh thành.

    - Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu sinh viên khóa 1, từng làm Quận trưởng Cái Bè, (Định Tường), Phó Tỉnh trưởng Long An, sau là Chủ tịch Quốc hội, một trong nhữngThủ tướng chính phủ cuối cùng của VNCH

    - Ông Châu Kim Nhân – Tổng trưởng Tài chánh 

    - Ông Nguyễn Huy Hân – cựu sinh viên khóa 4, Tổng Giám đốc Thuế vụ

    - Ông Cao Văn Hở, thủ khoa khóa 9, Phụ tá Tổng trưởng Tài chánh 

    - Ông Trần Nhựt Thăng, khóa 10 – Tổng thư ký Bộ Thông tin, Dân vận, Chiêu hồi…(thời Tổng trưởng là các ông Trương Bửu Điện và Hoàng Đức Nhã). Từ nhiều năm nay, ở Mỹ, anh Thăng đã là một Mục sư.

    Chút hồi ức nhớ đâu viết đó, xin các bạn đồng môn trên FB xem và bổ sung cho, hoặc có gì cần trao đổi thêm thì xin ghi lại. 

    Trân trọng

    Lê Nguyễn 

    2016 – 19.5.2026

    (có chỉnh sửa, bổ sung nhiều chỗ)

    Lê Nguyễn

    Có bạn hiểu lầm là tốt nghiệp HVQGHC có hai ngạch Đốc sự và Phó Đốc sự, xin nói rõ như sau:

    - trong qui chế công chức VNCH, có khái niệm “ngạch trật”, nghĩa là mỗi ngạch chia ra nhiều trật từ thấp đến cao, ví dụ Kỹ sư hạng 4 thì Kỹ sư là ngạch, hạng 4 là trật, ngạch chỉ có một, trật thay đổi tùy thời điểm.

    Ngạch Đốc sự cũng vậy, vì chỉ số lương khởi điểm là 430 (sau lên 470), chỉ số lương tột cùng là 1.160, khoảng cách quá lớn, người ta đặt ra rất nhiều trật, từ trật Phó Đốc sự tập sự (CSL 430) (sau đổi là Phó Đốc sự hạng 2, CSL 470), đến Đốc sự thượng hạng ngoại hạng sau 9 năm, CSL 1.160; theo đó, Phó Đốc sự hạng nhì (CSL 470), Phó Đốc sự hạng nhất trước 3 năm (CSL 510), Phó Đốc sự hạng nhất sau 3 năm (CSL 550), Đốc sự hạng 3 (CSL 590), Đốc sự hạng nhì (CSL 640) .... là các trật khác nhau của cùng ngạch Đốc sự, chứ không có ngạch “Phó Đốc sự”

    Tam Ngng

    "Việc tốt nghiệp và chọn nhiệm sở diễn ra rất công khai và công bằng, dựa vào danh sách và thứ hạng thi tốt nghiệp của mỗi người. Đến ngày chọn nhiệm sở, các sinh viên tốt nghiệp tập trung tại Bộ Nội vụ, ở đó, có một bảng kê số nhiệm sở phân phối ở mỗi tỉnh, mỗi người, lần lượt từ người đỗ thủ khoa trở xuống, chọn nhiệm sở cho mình. Tất nhiên, ai đỗ cao thì được chọn nhiệm sở tốt, tỉnh gần, “an ninh” hơn, ai đỗ chót, lãnh nhiệm sở chừa lại cuối cùng cho mình. Mọi chuyện vận động, chạy chọt không có đất sống trong cách chọn nhiệm sở này. "

    Hồi ấy, SP, Y, Phú Thọ; và cả bên quân sự như Đà Lạt, Thủ Đức, HV CS ... đều bổ nhiệm theo cách này.

    Một quy trình tuyển dụng công khai, minh bạch - tử tế thế, sao không chịu học nhỉ.

    Trần Tuấn Lộc

    Chương trình học từ cách đây 60 năm mà rất hiện đại; rất nền tảng và lại đa chiều. Có lẽ vì vậy mà công chức VNCH có tư duy xã hội rất cao! Không ngây ngô, hạn hẹp nhưng lại bảo thủ như công chức VNDCCH.

    Thu Doan Minh

    Bài hay quá anh, tư liệu phong phú, giúp người “trẻ” tụi em hiểu thêm về HVQGHC của VNCH.

    Xin được hỏi câu “tam Kiến, nhị Phước, nhất Hậu-Chương” có phải là những nơi VC hoạt động mạnh phải không?! Có liên quan đến câu “nhứt Chương, nhì Kiến” khá thịnh hành trước 1975 không ạ ?

    Xin cám ơn anh về bài viết này!

    Triet To Minh

    Ngôi trường chỉ đào tạo công chức chuyên nghiệp, không đào tạo lãnh đạo nhưng lại có năng lực vận hành quốc gia một cách hoàn hảo.

    Không nói hết lòng ngưỡn mộ với học viện và những viên ngọc được tạo ra từ đây.

    Em cảm ơn anh nhiều, rất nhiều Lê Nguyễn

    Bach Huynh

    Quan chức thời VNCH toàn người giỏi. Không có chạy chọt hay gửi gắm con ông cháu cha hay bè phái cùng một guộc.

    Lâm Nguyễn

    Dạ anh Lê Nguyễn, hồi nhỏ mỗi khi nghe má em nói về ai đó mà kèm theo câu “dân Quốc gia hành chính” với vẻ nể phục, em không hiểu. Sau này lớn lên em hiểu chút ít nhưng giờ đọc bài này em mới hiểu rõ vì sao má Sâm Trương của em lại tỏ thái độ như vậy khi nói về các chú bác xuất thân từ Học viện QGHC.

    Truong Anh Tung

    Thế hệ chúng tôi ( đầu thập niên bảy mươi ) rất ngưỡng mộ Trường QGHC , nhưng biết sức mình có hạn nên chỉ Kính nhi viễn chi . Năm tôi học ở Thủ Đức , có khá nhiều anh QGHC cùng khóa , cùng trung đội . Bây giờ sau hơn nửa thế kỷ, tôi chỉ còn nhớ tên 2 anh Vĩnh T ( người Huế ) , anh Ngô Đình H ( người Bắc ) ...

    Thanh Dang

    Tư liệu quý giá xin phép share và cảm ơn chú

    Chúc chú và quý quyến bằng an, mạnh giỏi 

    Nguyen Manhdinh

    Đầu vào tốt nên đầu ra chất lượng cao

    Quy La

    Góp vui :Bên ĐHSP ,ra trường là Giáo sư Trung học hạng 4,chỉ số lương 470. Học bổng chỉ có 1000, cũng đủ xài,không còn xin tiền nhà nữa.

    Năm Nguyễn

    Xin bổ sung một chi tiết nhỏ : đến khoá 12, thí sinh đậu, phải thi phần thể lực, dĩ nhiên không ai rớt. Hình như từ khoá 13, việc thi thể lực không còn nữa.

    Trần Quang Khánh

    Trường hậu bổ Huế và Hà nội là nôi đầu tiên đào tạo viên chức hành chánh theo mô hình của Tây phương ?

    Quốc Khánh Trần

    Cảm ơn những thông tin rất hữu ích của Chú trong bài viết…

    Thân Quý Chú


    Không có nhận xét nào