Nguyễn Quốc Chính
02/7/2026
“...Một ngôn ngữ sống không phải là ngôn ngữ đóng kín.
Một nền văn hóa mạnh không phải là nền văn hóa sợ hãi mọi ảnh hưởng bên ngoài.
Lịch sử cho thấy những nền văn minh phát triển nhất thường là những nền văn minh biết tiếp nhận, chọn lọc và chuyển hóa tinh hoa từ bên ngoài thành sức mạnh của chính mình.
Bởi vậy, khi tranh luận về khai phóng, về giáo dục hay về văn hóa, có lẽ chúng ta nên nhớ một điều giản dị:
Nếu tổ tiên đã từng khước từ mọi điều mới lạ vì sợ “lai căng”, thì có thể hôm nay chúng ta vẫn đang loay hoay với những ký tự mà phần lớn dân chúng không thể đọc được”.
Nếu nhìn rộng hơn câu chuyện bài thơ, khai phóng hay những cuộc tranh luận văn hóa gần đây, thì có lẽ điều đáng nói nhất lại chính là tiếng Việt.
Bởi rất nhiều người hôm nay dễ dàng lên án những yếu tố được cho là “ngoại lai”, “lai căng”, nhưng lại quên rằng bản thân chữ Quốc ngữ mà chúng ta đang sử dụng mỗi ngày cũng là sản phẩm của một quá trình giao thoa văn hóa kéo dài hàng thế kỷ.
Trước thế kỷ XVII, người Việt chủ yếu sử dụng chữ Hán và sau đó là chữ Nôm. Đó là những thành tựu văn hóa lớn của dân tộc. Nhưng phải thừa nhận rằng chúng là hệ chữ rất khó phổ cập trong xã hội. Tỷ lệ biết chữ thời phong kiến luôn ở mức thấp, tri thức chủ yếu nằm trong tay tầng lớp sĩ phu.
Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ ban đầu không phải do người Việt tạo ra. Nó được hình thành từ nỗ lực ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin của các giáo sĩ phương Tây. Nếu nhìn bằng con mắt cực đoan của một số người ngày nay, có lẽ nó cũng từng bị xem là một thứ “lai căng” hay “xâm nhập văn hóa”.
Nhưng lịch sử lại chứng minh điều ngược lại.
Chính thứ chữ viết mang yếu tố ngoại nhập ấy đã trở thành công cụ quan trọng nhất để phổ cập giáo dục, truyền bá tri thức và hình thành nền báo chí, văn học hiện đại Việt Nam. Từ phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục cho đến những cuộc vận động nâng cao dân trí đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đều đóng vai trò đặc biệt.
Điều thú vị là dân tộc Việt Nam không tiếp nhận chữ Quốc ngữ một cách thụ động. Người Việt đã biến nó thành của mình. Chúng ta dùng nó để viết nên thơ ca, văn học, sử học, khoa học, luật pháp và cả những tác phẩm làm nên bản sắc dân tộc.
Nói cách khác, điều làm nên giá trị không nằm ở nguồn gốc của công cụ, mà nằm ở cách một dân tộc sử dụng công cụ ấy để tạo ra giá trị mới.
Ngôn ngữ Việt Nam cũng vậy.
Tiếng Việt ngày nay là kết quả của hàng nghìn năm giao lưu và tiếp biến. Trong vốn từ vựng của chúng ta có lớp từ gốc Việt; có lớp từ Hán Việt; có những từ vay mượn từ tiếng Pháp, tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác. Nhưng khi đi vào đời sống, tất cả đều được Việt hóa và trở thành một phần của tiếng Việt.
Một ngôn ngữ sống không phải là ngôn ngữ đóng kín.
Một nền văn hóa mạnh không phải là nền văn hóa sợ hãi mọi ảnh hưởng bên ngoài.
Lịch sử cho thấy những nền văn minh phát triển nhất thường là những nền văn minh biết tiếp nhận, chọn lọc và chuyển hóa tinh hoa từ bên ngoài thành sức mạnh của chính mình.
Bởi vậy, khi tranh luận về khai phóng, về giáo dục hay về văn hóa, có lẽ chúng ta nên nhớ một điều giản dị:
Nếu tổ tiên đã từng khước từ mọi điều mới lạ vì sợ “lai căng”, thì có thể hôm nay chúng ta vẫn đang loay hoay với những ký tự mà phần lớn dân chúng không thể đọc được.
Rồi biết đâu, di sản văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất của người Việt trong hơn một thế kỷ qua lại chính là một minh chứng rằng: đôi khi, điều đến từ bên ngoài không làm mất đi bản sắc dân tộc; ngược lại, nó giúp dân tộc ấy kể câu chuyện của mình rõ ràng hơn, xa hơn và lâu bền hơn bằng chính tiếng nói của mình.
Nguyễn Quốc Chính
Không có nhận xét nào