Hồ Quốc Tuấn Tháng 7/ 2026 “…Một câu chuyện tôi được nghe kể về một vị giáo sư cực kỳ nổi tiếng ở Anh, khi được đề nghị về Việt Nam giúp xây dựng một ngành công nghệ mũi nhọn, đã đặt câu hỏi với một đại học đầy nguồn lực: anh có bao nhiêu nhà nghiên cứu và họ đang làm gì. Sau khi nghe trả lời số nhà nghiên cứu chỉ bằng chưa tới 1/10 những gì đại học ông đang có, ông đã lịch sự từ chối, nhưng chia sẻ lại với những đồng nghiệp người Việt thân quen: các bạn sẽ còn con đường rất rất dài, vì chỉ bao nhiêu đó người, sẽ khó đi xa được đến đâu”. Lần này về Việt Nam, tui có dịp nghe nhiều về câu chuyện tăng trưởng của TP.HCM, những thách thức của hiện tại và nghe anh Huỳnh Thế Du trình bày về các vấn đề có thể nhìn thấy trong động lực tăng trưởng cũng như mức độ đầu tư và phân bổ ngân sách. Nhìn chung, tui tin rằng TP.HCM vẫn có những lợi thế y nguyên về con người và cái cách làm ăn của người dân nơi đây. Nhưng để phát huy nó cần nhiều hơn như thế rất nhiều trong bối cảnh mới. Tui có 2 bài viết, một đăng trên số Tuổi Trẻ Cuối Tháng, ấn bản cuối cùng, và một từ báo Đầu tư. Trong đó hai vấn đề được nêu bật: 1) yếu tố con người và 2) dòng chảy thông tin/tri thức quý giá của nơi đây. Trong Đọc Chậm tuần này, mình sẽ tập trung chia sẻ 2 bài viết này với các bạn nha. Câu chuyện dòng chảy thông tin: Nửa thế kỷ của một đô thị luôn vươn lên Có một câu hỏi mà các nhà nghiên cứu phát triển hay đặt ra khi nhìn vào những thành phố từng trải qua mở cửa kinh tế: Cái gì thực sự lan truyền khi một nền kinh tế mở cửa? Chỉ là hàng hóa, vốn, hay còn là tri thức? Với Thượng Hải, Singapore, Seoul, hay TP.HCM, câu trả lời thường phức tạp hơn những gì các con số có thể kể. Tôi muốn nhìn nhận qua một lăng kính ít được kể như vậy: dòng chảy thông tin và tri thức đã âm thầm định hình nguồn nhân lực của thành phố như thế nào. Nhìn từ bên ngoài, điều dễ nhận thấy đầu tiên ở TP.HCM là vai trò đặc biệt mà đô thị này được giao trong cấu trúc chính sách quốc gia. 50 năm qua, Bộ Chính trị Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về các loại cơ chế đặc thù, đặc biệt cho TP.HCM, thể hiện mức độ quan tâm chính sách hiếm thấy dành cho một đô thị đơn lẻ. Mỗi nghị quyết đánh dấu bởi một danh xưng khác nhau, từ “trung tâm kinh tế” những năm đầu, đến “đô thị đặc biệt”, “đầu tàu công nghiệp hóa”, và gần nhất là khát vọng trở thành “trung tâm dịch vụ, kinh tế và tài chính mang tầm vóc toàn cầu”. Quan trọng hơn danh xưng là vai trò thực tế: TP.HCM liên tục được chọn làm nơi thí điểm chính sách kinh tế thị trường trước khi áp dụng trên toàn quốc. Đây là mô hình phát triển không lạ với giới quan sát quốc tế, giống cách Thâm Quyến từng là phòng thí nghiệm chính sách cho Trung Quốc, hay một số đặc khu kinh tế Đông Á khác đã đóng vai trò “người đi trước” để thí điểm cải cách trước khi nhân rộng. Nhưng điều làm TP.HCM khác biệt không chỉ là cơ chế đặc thù. Thành phố, do lịch sử và vị trí địa lý, đã có sẵn một tài sản ít đô thị thí điểm nào có ngay từ đầu: tầng lớp dân cư quen thuộc với thương mại quốc tế, và mạng lưới kết nối với thế giới bên ngoài chưa bao giờ đứt đoạn, kể cả trong những năm bao cấp trước mở cửa. Hành trình của cá nhân tôi chính là một câu chuyện minh chứng cho điều đó. Thời tôi học ngành tài chính vào những năm đầu 2000, thông tin từ các tổ chức như World Bank hay IMF không đến qua internet dễ dàng như bây giờ. Thời đó, tôi may mắn là một trong số ít sinh viên được tiếp cận các báo cáo và dữ liệu kinh tế quốc tế qua đĩa CD, mượn từ thư viện của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP.HCM. Điều đó cho thấy ngay từ rất sớm, thành phố đã có những điểm tiếp cận tri thức khá phổ quát, có tính toàn cầu, vào lúc Việt Nam còn đang ở bước đầu hội nhập. Vài năm sau, khi thực tập ở ngân hàng Eximbank, tôi lại có cơ hội tiếp cận một lớp tri thức khác: báo cáo phân tích của ngân hàng nước ngoài là đối tác của Eximbank, và tài liệu phân tích tài chính chuyên môn cho dân ngân hàng, vốn không hề có trong sách giáo khoa đại học thời đó. Đây chính là lý thuyết chuyển giao tri thức trong thực tế: hội nhập thương mại không chỉ mang hàng hóa và vốn qua biên giới, mà còn mang theo cả hiểu biết, ở đây là phương pháp luận, công cụ phân tích, và chuẩn mực nghề nghiệp, từ các trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. Những năm 2000-2001 là thời điểm đầu tiên tôi tiếp cận với các tài liệu về “chuẩn mực tốt nhất” (best practice) của các tập đoàn hàng đầu, thông qua nhiều hội thảo do các tập đoàn tài chính và kiểm toán lớn của thế giới tổ chức. Điều chỉ có thể có ở TP.HCM. Với vai trò cửa ngõ giao thương lớn nhất Việt Nam, Thành phố không chỉ là nơi đầu tiên những chia sẻ tri thức diễn ra, mà còn là nơi đưa tri thức đó vào thực hành nhanh nhất, qua hợp tác quốc tế, các công ty xuất nhập khẩu, tổ chức phi chính phủ, và chương trình hợp tác giáo dục... Không cần hệ thống từ trên xuống, không có ai chỉ đạo, không có kế hoạch tổng thể, nhưng quá trình đó diễn ra thật mạnh mẽ và liên tục, tạo ra một sức mạnh khác thường cho Thành phố. Tri thức lan tỏa nhanh hơn vốn Một thế hệ những người trẻ ở TP.HCM khi đó đã tự học, tự mò mẫm, “học lóm” bằng nhiều con đường khác nhau, sau này đã có đủ năng lực để cạnh tranh trên thị trường lao động toàn cầu. Nhiều người giành được học bổng hay tự túc đi du học, rồi ở lại làm việc tại các trung tâm tài chính và công nghệ lớn trên thế giới. Một buổi gặp mặt nhiều năm sau tại thủ đô nước Mỹ, tôi và những người bạn cùng thời lại quay về đúng chủ đề: những thông tin học được ở TP.HCM theo cả con đường chính thống lẫn “học lóm” chính là bước đệm quan trọng giúp chúng tôi thích ứng nhanh với môi trường làm việc quốc tế. Đây là quan sát có giá trị vượt ra ngoài câu chuyện cá nhân. Nó cho thấy tác động thực sự của một thành phố mở cửa kinh tế: không chỉ đo được bằng kim ngạch xuất nhập khẩu hay vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn ở biến số khó định lượng hơn nhiều: tốc độ lan tỏa thông tin và năng lực tự nâng cấp của lực lượng lao động địa phương. Nếu thương mại mở ra các luồng hàng hóa, thì chính cái hiệu ứng “đón nhận tri thức” đi kèm mới là động cơ tạo ra nguồn nhân lực thực sự toàn cầu - những con người vừa hiểu thị trường nội địa, vừa nói được ngôn ngữ mà giới kinh doanh và đầu tư quốc tế cảm thấy quen thuộc và có thể đặt niềm tin. Nhìn vào cách TP.HCM đã phát triển 50 năm qua, có thể thấy quy luật này lặp lại liên tục, dù dưới những hình thức khác nhau. Thời kỳ đầu, đó là tri thức về kinh tế thị trường được thử nghiệm thận trọng. Giai đoạn sau, đó là tri thức tài chính, ngân hàng, quản trị doanh nghiệp khi các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu đặt văn phòng và nhà máy. Và hiện tại, đó là tri thức về công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế số. Thành phố đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 25% GRDP vào năm 2025, 40% năm 2030 và 50% năm 2045. Những chỉ tiêu phản ánh rõ niềm tin vào tương lai tăng trưởng của TP.HCM, nhưng cũng đầy tham vọng. Nó cũng phản ánh câu hỏi mà nhiều đô thị công nghiệp hóa từng đối mặt: Liệu mô hình tăng trưởng dựa vào thương mại, dịch vụ và bất động sản đã chạm ngưỡng chưa? Trong nhiều năm, sức hút của TP.HCM là ở ba lĩnh vực đó, nhưng mô hình này đang bộc lộ giới hạn khi dư địa phát triển nội đô thu hẹp, áp lực hạ tầng gia tăng và cạnh tranh khu vực ngày càng mạnh. Đó cũng là quỹ đạo tự nhiên của hầu hết các đô thị từng đóng vai trò “cửa ngõ thương mại” trong khu vực, từ Hong Kong đến Thượng Hải. Khi chi phí đất đai và lao động tăng, động lực tăng trưởng buộc phải chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ gia công sang sáng tạo giá trị. Nói cách khác, vai trò của Thành phố được kỳ vọng dịch chuyển từ “nơi tiếp nhận tri thức sớm nhất” sang “nơi sản sinh tri thức”, một bước nhảy khó hơn nhiều, đòi hỏi khác hơn nhiều về thể chế tương ứng. Ví dụ đó cũng là bổ sung tốt cho câu chuyện cá nhân của tôi ở phần đầu. Thương mại và mở cửa tự nó tạo ra động lực đột phá về nhân lực và tri thức, nhưng đột phá đó chỉ hội tụ thành kết quả thực sự khi cơ chế đủ cởi mở để đón nhận. 20 năm trước, “cơ chế cởi mở” có nghĩa là cho phép thông tin và sách báo nước ngoài lưu hành dễ hơn hay cho phép ngân hàng nước ngoài mở văn phòng đại diện. Hôm nay, “cơ chế cởi mở” đã khác: tốc độ phê duyệt đầu tư, khung pháp lý cho hoạt động đổi mới sáng tạo, quyền tự chủ ngân sách và quy hoạch... Bản chất vấn đề không thay đổi: tri thức và vốn đều cần có đường ống đủ rộng để lưu chuyển. Câu chuyện của những sinh viên kinh tế đầu những năm 2000 như tôi là một ví dụ nhỏ nhưng sống động cho cơ chế đó. 50 năm sau ngày bắt đầu công cuộc tái thiết, TP.HCM đang ở ngã rẽ giống như nhiều lần trước: từ trung tâm thương mại và gia công, định vị lại thành trung tâm sáng tạo và công nghệ. Lịch sử 50 năm qua cho thấy TP.HCM từng nhiều lần làm được như thế. Đó là nền tảng để hy vọng cho tương lai. Các bạn có thể đọc toàn bài đầy đủ ở đây nha. TP.HCM và bài toán “đất lành chim đậu” Có một quy luật, mà bất kỳ ai theo dõi dòng vốn đầu tư quốc tế đều nhận ra: người ta không đầu tư vào một bản kế hoạch, người ta đầu tư vào niềm tin đối với người sẽ thực thi bản kế hoạch đó. Một trung tâm tài chính quốc tế, một hệ sinh thái khoa học công nghệ, suy cho cùng không phải là một tòa nhà hay một bộ luật, mà là một tập hợp con người: những nhà nghiên cứu, những nhà quản lý quỹ, những kỹ sư công nghệ, những người làm chính sách, đủ năng lực và đủ niềm tin để những dòng vốn đó chảy vào và ở lại. Nói cách khác, nếu TP.HCM muốn nói chuyện sòng phẳng với New York, Singapore hay Thượng Hải về tài chính và công nghệ, câu chuyện đầu tiên phải bàn không phải là phí giao dịch hay khung pháp lý sandbox, mà thật ra là con người. Các giao dịch tài chính, với hơn 20 năm trải qua các thị trường Anh, Úc và Việt Nam, tôi nhận ra cuối cùng là cuộc đấu trí và sự nhân nhượng của con người với con người. Một câu chuyện tôi được nghe kể về một vị giáo sư cực kỳ nổi tiếng ở Anh, khi được đề nghị về Việt Nam giúp xây dựng một ngành công nghệ mũi nhọn, đã đặt câu hỏi với một đại học đầy nguồn lực: anh có bao nhiêu nhà nghiên cứu và họ đang làm gì. Sau khi nghe trả lời số nhà nghiên cứu chỉ bằng chưa tới 1/10 những gì đại học ông đang có, ông đã lịch sự từ chối, nhưng chia sẻ lại với những đồng nghiệp người Việt thân quen: các bạn sẽ còn con đường rất rất dài, vì chỉ bao nhiêu đó người, sẽ khó đi xa được đến đâu. Ông không hỏi tiền, không hỏi cơ sở vật chất hay cơ chế. Ông hỏi về con người. Đó cũng chính là lý do thu hút nhân tài đã trở thành một chủ đề được nhắc đến dày đặc trong các buổi làm việc với những cơ quan hoạch định chính sách tại Việt Nam mà tôi có dịp tham dự từ đầu năm tới nay. Nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ, cho trung tâm tài chính quốc tế, đang được xác định là trọng tâm trong định hướng phát triển quốc gia, từ các nghị quyết về đột phá khoa học công nghệ đến những đề án thu hút chuyên gia, trí thức người Việt ở nước ngoài. Nhưng giữa một bên là quyết tâm chính sách, và một bên là thực tế vận hành, vẫn còn một khoảng cách mà ít ai sẵn sàng nói thẳng ra vấn đề. Trong suốt nhiều thập kỷ, một trong những trụ cột cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của TP.HCM chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, linh hoạt, học hỏi nhanh, “học liền làm ngay”. Đó là một di sản có thật. Nhưng những đòi hỏi của giai đoạn tăng trưởng mới, khi thành phố muốn dịch chuyển từ vai trò một trung tâm thương mại và gia công sang một trung tâm sáng tạo, tài chính và công nghệ, lớn hơn nhiều so với những gì mô hình cũ có thể đáp ứng. Đó là việc phải thu hút được nguồn lực chất lượng cao từ bên ngoài, những người đã và đang cạnh tranh trên một thị trường lao động toàn cầu, nơi TP.HCM chỉ là một trong rất nhiều điểm đến khả dĩ. Thực trạng đó dẫn đến nhiều câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất: Có cần buộc nhân tài “về hẳn”? Câu hỏi đầu tiên và cũng là câu hỏi gây tranh luận nhiều nhất, là liệu chúng ta có nên tiếp tục đòi hỏi các nhà khoa học, các chuyên gia chất lượng cao phải quay về làm việc toàn thời gian, định cư hẳn ở Việt Nam, mới được xem là “đóng góp” cho đất nước? Đây là một tư duy dễ hiểu về mặt cảm xúc, nhưng ngày càng lạc hậu so với cách vận hành thực tế của tri thức toàn cầu. Khoa học hiện đại, tài chính hiện đại, vận hành theo mạng lưới chứ không theo địa lý hành chính. Một nhà nghiên cứu có thể đóng góp cho một dự án ở TP.HCM trong lúc vẫn giữ vị trí ở một đại học nước ngoài, miễn là cơ chế hợp tác đủ linh hoạt để cho phép điều đó: đồng giảng dạy, đồng nghiên cứu, cố vấn bán thời gian, hợp tác theo dự án. Đòi hỏi một sự lựa chọn tuyệt đối, “hoặc về hẳn, hoặc đứng ngoài”, vô hình trung loại bỏ chính những người có năng lực kết nối TP.HCM với mạng lưới tri thức toàn cầu, vốn là thứ tài sản quý giá nhất, mà thành phố cần trong giai đoạn này. Câu hỏi thứ hai: Đối thủ đang làm gì? Câu hỏi thứ hai, là liệu chúng ta có thực sự ý thức được đối thủ cạnh tranh, ví dụ như là Trung Quốc, Thái Lan, Malayisa, đang làm gì để giữ và thu hút nhân tài gốc Việt cũng như nhân tài quốc tế? Tôi có thể chia sẻ một quan sát từ chính trải nghiệm cá nhân. Mỗi năm, bắt đầu vào khoảng tháng 4, tôi đều nhận được những lời đề nghị giảng dạy một vài môn học mùa hè tại các trường đại học ở Trung Quốc, với mức thù lao cho mỗi môn có thể lên đến một phần ba thu nhập hàng năm mà tôi nhận được từ trường đại học ở Anh nơi tôi đang công tác, trong khi mỗi môn lại có đến 5-7 trợ giảng người Trung Quốc. Đi kèm với đó là cơ hội hợp tác với các nhà nghiên cứu Trung Quốc, được hỗ trợ bởi một lực lượng nghiên cứu sinh làm việc với cường độ cao theo tinh thần thường được gọi vui là “9 giờ sáng đến 9 giờ tối, 6 ngày một tuần”. Đây là chính theo nghĩa đen, mà tôi nhìn thấy khi mà tôi có hơn 1 tuần làm nghiên cứu và thăm vài người bạn học cũ ở Đại học Fudan của Trung Quốc. Đó là một mô hình cạnh tranh nhân tài cụ thể, được vận hành bằng tiền, bằng hạ tầng nghiên cứu, bằng đội ngũ nghiên cứu sinh và bằng một kỳ vọng về kết quả rất khắc nghiệt nhưng rõ ràng. Gần đây chúng ta đang thấy có những nhân sự chất lượng cao của Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài lại đang dần dịch chuyển sang chính những quốc gia cạnh tranh này, không hẳn vì thiếu tình cảm với quê hương, mà đơn giản vì đó là nơi cung cấp điều kiện làm việc, đãi ngộ và cơ hội phát triển sự nghiệp rõ ràng hơn. Nếu TP.HCM muốn cạnh tranh thực sự trong cuộc đua thu hút tri thức toàn cầu, câu hỏi không thể chỉ là “làm sao mời họ về”, mà phải là “làm sao để TP.HCM trở thành một lựa chọn cạnh tranh được, về mặt điều kiện làm việc, so với những gì các đối thủ khu vực đang chào mời”. Câu hỏi thứ ba: Trao quyền tự chủ đến đâu? Câu hỏi thứ ba, có lẽ là câu hỏi mang tính thể chế nhất, là chúng ta sẵn sàng giao quyền tự chủ về đãi ngộ và phân bổ nhân sự cho các địa phương lớn như TP.HCM đến đâu. Nếu chúng ta thua về đãi ngộ, nhưng hơn về mặt này, chúng ta vẫn có thể thu hút người giỏi về? TP.HCM vốn dĩ nổi tiếng về sự linh hoạt và cởi mở, một danh tiếng được xây dựng qua nhiều thập kỷ là nơi thử nghiệm chính sách trước khi nhân rộng ra cả nước. Nhưng cơ chế về nhân sự, đặc biệt là về tuyển dụng, đãi ngộ và đánh giá hiệu quả công việc trong khu vực công và các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, trong vài năm qua, vẫn còn vận hành theo những khung mẫu chung mang tính hành chính, chưa tương xứng với mức độ linh hoạt mà danh tiếng đó gợi ra. Một thành phố muốn cạnh tranh ở tầm khu vực về tài chính và công nghệ cần được trao quyền tương xứng để quyết định: mức lương nào là hợp lý cho một chuyên gia dữ liệu cấp cao, cơ chế nào để giữ một nhà khoa học không phải chạy theo đúng quy trình thăng tiến hành chính thông thường và ai có quyền quyết định những điều đó, mà không phải đi qua nhiều tầng phê duyệt. |
Hồ Quốc Tuấn
Không có nhận xét nào