Header Ads

  • Breaking News

    Liệu AI có thể viết ra những thứ mà chúng ta thực sự muốn đọc?

    Gần đây tôi đã thực hiện một thử nghiệm đơn giản, và câu trả lời là không.

    Nguồn: Jay Caspian Kang, “Can A.I. Produce Writing That We Actually Want to Read?”, The New Yorker, June 2, 2026, https://www.newyorker.com/news/fault-lines/can-ai-produce-writing-that-we-actually-want-to-read

    Người dịch: Phan Võ Minh Nhân - Lê Ngô Huyền Trang

    11/08/2026

    Image

    Trí tuệ nhân tạo (AI) dù phát triển tới đâu cũng không thể thay thế con người tạo ra những dòng văn mà độc giả muốn đọc - (C): Canva/VSF

    Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.

    Trong phần trước của loạt bài về tương lai của giáo dục bậc cao/đại học, tôi đã trò chuyện với các giáo sư về những cách mà trí tuệ nhân tạo (AI) đã thay đổi các lớp học của họ. Hầu hết đều cảm thấy tuyệt vọng trước sự đổ vỡ của một giao ước giữa sinh viên và giáo viên, thứ dựa trên niềm tin rằng, kể cả khi sinh viên không phải lúc nào cũng hoàn hảo, chí ít thì đôi khi họ vẫn thử thách bản thân để tự mình suy nghĩ. Nếu sinh viên dựa dẫm vào những tổng hợp của AI để “đọc” thay mình, nếu họ không thử diễn đạt ý tưởng của mình thành văn bản, liệu họ có thực sự học được gì không?

    Khi tôi xét đến câu hỏi ban đầu của loạt bài này - liệu con gái 9 tuổi của tôi sẽ đi học đại học hay không - tôi thấy mình tự vấn liệu rằng con bé có phải thực sự chật vật trải qua quá trình viết theo kiểu ngày xưa hay không. Độc giả luôn muốn văn học được viết bởi con người, nhưng với mọi thứ khác - emails, bản quảng cáo, văn bản pháp lý, bài luận của sinh viên - sự phản kháng đối với văn bản do AI tạo ra gần như chắc chắn sẽ bị buông lơi khi mà công nghệ ngày càng tiến bộ và việc phân biệt được văn bản được tạo ra bởi một người với văn bản được tạo ra bởi máy móc trở nên bất khả. Khi điều này xảy ra, vị thế chủ đạo của giáo viên đối với sinh viên - “Tôi sẽ đánh rớt em nếu em gian lận” - sẽ biến mất, bởi đơn giản sẽ không có cách nào để biết được.

    Vậy nên tôi muốn tạm ngưng viết về các ảnh hưởng của AI đối với giáo dục bậc cao và đặt ra một câu hỏi cơ bản hơn: Chúng ta còn cách xa viễn cảnh đó bao nhiêu? Tôi tin rằng hiện nay người ta vẫn dễ dàng phát hiện các văn bản rõ ràng do AI tạo ra. Một giáo sư đã đọc hàng trăm tài liệu và nắm rõ khả năng viết của sinh viên có thể nhận ra những bài viết giả mạo. Một người quản lý đột nhiên nhận được các email gọn gàng, gạch đầu dòng và hầu như vui vẻ từ nhân viên của mình hiển nhiên sẽ nghi ngờ rằng email ấy hẳn là do robot tự động hoàn thành. Văn bản của robot cũng thường đầy rẫy những chỉ dấu: lượng lớn dấu gạch ngang, cấu trúc “không phải X mà là Y”, những động từ đặc trưng (như “delve - đào sâu” chẳng hạn.)

    Nhưng những chỉ dấu trên thường chỉ xuất hiện trong các đầu ra sơ đẳng nhất của Claude. Thế còn những thể loại văn bản mà chúng ta thực sự muốn đọc? Claude có thể tạo ra chúng không?

    Câu hỏi này, hay một số phiên bản khác của nó, đã được hỏi bởi hàng ngàn độc giả giận dữ trong suốt vài tuần qua, sau khi tạp chí văn học Granta xuất bản một câu chuyện thắng giải Commonwealth bởi một tác giả có tên Jamir Nazir dường như tập hợp đầy đủ các đặc điểm của văn bản do AI tạo. Người ta để ý đến sự lặp lại kỳ lạ của từ “hum - ngâm nga/ậm ừ,” và đặc biệt là các ẩn dụ gượng gạo, bế tắc và khó hiểu. Sau đó, đơn vị xuất bản của Granta đã đưa ra một phát ngôn cực kỳ mâu thuẫn, kết luận rằng “có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết được” liệu AI đã viết ra câu chuyện ấy. Về phần Nazir, ông bác bỏ cáo buộc trên. Nhiều tác giả đã kêu la rằng ngày tận thế đã đến, hay, một cách ít thuyết phục hơn, khăng khăng rằng lý do mà tác phẩm do AI tạo có thể thắng được giải Commonwealth là bởi văn học hư cấu đang ở vào một giai đoạn tồi tệ. (Văn học hư cấu ngày nay tốt hay tệ hơn 20, 30 hay 40 năm trước? Tôi không biết, nhưng tôi biết rằng mọi thế hệ tác giả đều đã phàn nàn cùng một câu như thế.)

    Tôi đã sử dụng Claude để lập trình một trò chơi đơn giản, trong đó trình bày một văn bản khoảng 200 chữ và hỏi người chơi xem nó đã được viết bởi con người hay được tạo bởi AI. Các văn bản mẫu đều được lấy từ Project Gutenberg, một thư viện văn học trực tuyến thuộc miền truy cập công cộng (public-domain literature); tôi bảo con robot quét các tác phẩm được viết bởi các tác giả bao gồm George Eliot, James Joice, Ernest Hemingway và Arthur Conan Doyle rồi tạo ra các đoạn văn dựa trên văn phong riêng của mỗi tác giả trên. Con robot sau đó hiển thị kết quả lên và để tôi cùng một vài người bạn đoán xem từng đoạn là thật hay là bản ngụy tạo.

    Các vòng thử nghiệm khá dễ dàng. Văn bản do AI tạo có những chỉ dấu, bao gồm lỗi hình thức lẫn dấu câu, và một sự lệ thuộc thái quá vào các phép so sánh và ẩn dụ gượng ép. AI cũng có một thói quen kì lạ là làm các nhân vật động đậy bồn chồn liên tục, như việc luôn phải vuốt tay dọc theo cạnh bàn hay chỉnh cổ áo. Tuy nhiên chỉ dấu đáng tin cậy nhất là một thứ trừu tượng hơn, và có lẽ hơi đáng sợ sau khi tôi xét lại. Các khung cảnh tạo ra bởi AI có nhân vật, nhưng ngoài việc động đậy bồn chồn, nhân vật hầu như chẳng làm gì.

    Hãy cùng xem đoạn văn mà Claude đã tạo ra theo phong cách của Henry Fielding:

    Sophia, who had hitherto said very little, now looked towards her father with an expression which Mr. Western could not well interpret, whether as entreaty or reproach and indeed it is probable she scarce knew herself what she meant by it. Jones stood near the window, and had the appearance of a man waiting to hear his sentence pronounced. Western, for his part, had by this time recovered something of his usual bluster, and began again upon the subject of Blifil, commending his estate and his family with great earnestness, as though these considerations alone ought to have settled the matter long since. He spoke of Allworthy’s approval with particular force, repeating the name two or three times, as if that name carried an authority which no reasonable person could withstand. Sophia said nothing to this, but she turned away towards the fireplace, where a small coal fire was burning, though the afternoon was not cold enough to have required one.

    Lược dịch:

    Sophia, người bấy lâu kiệm lời, giờ nhìn về phía cha cô với một biểu cảm mà ông Western không thể diễn giải được hết, dù đó là vẻ khẩn nài hay trách móc và quả thực có lẽ cô cũng không chắc ánh mắt ấy mang ý nghĩa gì. Jones đứng gần cửa sổ, mang dáng vẻ của một người đàn ông chờ tuyên án. Về phần Western, bấy giờ đã lấy lại phần nào sự khoác lác thường thấy, và lại bắt đầu nói về Blifil, ngợi ca điền trang lẫn gia đình ông một cách nhiệt thành, cứ như thể chỉ riêng những yếu tố đó cũng đã đủ để định đoạt vấn đề này từ lâu. Ông ta nói đến sự chấp thuận của Allworthy với giọng điệu đặc biệt mạnh mẽ, nhắc lại cái tên ấy hai ba lần, như thể nó mang theo một uy quyền mà không kẻ lý trí nào có thể cưỡng lại. Sophia không đáp lại, nhưng cô xoay người về hướng lò sưởi, nơi một đốm than đang cháy, dù buổi chiều ấy chẳng lạnh đến mức cần phải đốt lửa.

    Có rất ít hành động và không có sự chắc chắn nào. Sophia không nói gì nhiều, và ông Western không thể giải thích được biểu cảm của cô, thứ mà chính cô cũng không hiểu hết. Và sau khi Western nói xong, được mô tả bởi cụm “as if” và cụm “as though” (cứ như là/ như thể là), Sophia không phản hồi, và nhìn vào một ngọn lửa vô nghĩa đang cháy trong lò sưởi.

    Trong các vòng đầu, người chơi được cho xem những đoạn văn bế tắc như trên ngay lập tức cho rằng chúng đều là giả, kể cả khi con robot đã hoàn thành tương đối ổn công việc mô phỏng văn phong của một tác giả cụ thể.

    Trong vài ngày tiếp theo, tôi đã trò chuyện với Claude về việc làm thế nào để loại bỏ các chỉ dấu trên. Tôi bảo nó tránh phép so sánh và giảm sử dụng các từ như “nowhere” và “something”, những từ thường tạo ra kết quả trái ngược với tính chất kỳ lạ và mơ hồ cốt lõi của chúng. Claude tiếp tục cho ra các đoạn văn vô hồn, trong đó Jay Gatsby hay Sherlock Holmes chẳng làm gì và cũng chẳng có ý kiến gì về những việc rất vụn vặt đang xảy ra xung quanh họ. Tôi bảo Claude rằng nó đang không làm tốt lắm nhiệm vụ loại đi các thói xấu của nó và tôi khuyên nó tạo thêm một AI agent để quét các văn bản giả và tìm các lỗi nó phạm phải. Một agent thứ ba tạo ra các lưu ý với chỉ dẫn làm thế nào để bắt chước tốt nhất một tác giả cụ thể. Tôi tưởng tượng chúng như các thẻ gợi ý mà agent sẽ giơ lên nhằm nhắc mọi người nhớ phải khiến cho Dorothea Brooke thực sự làm gì đó.

    Sau đây là một ví dụ về các luật mà tôi không hề đụng tay vào - đây là các chỉ dẫn mà Claude tự tạo cho chính nó để mô phỏng văn phong của mỗi tác giả. (Tôi chỉ đưa vào đây một vài luật; thường có khoảng 10 hướng dẫn trong mỗi mục “Làm” và “Không làm”.)

    ERNEST HEMINGWAY

    LÀM:

    Nối các câu trần thuật ngắn sử dụng chữ “và” như phương tiện kết nối chính, tạo ra động lực diễn tiến

    Làm gọn định danh hội thoại chỉ còn “anh ấy nói rằng/ cô ấy nói rằng”; ít sử dụng trạng từ hoặc các nhịp hành động trong cùng một câu.

    Đặt thời tiết hay phong cảnh như một câu trần thuật đơn thuần, không phải một quan sát đóng khung (“Mặt trời đã lên trên những ngọn đồi”)

    KHÔNG LÀM:

    Không bao giờ sử dụng cấu trúc chồng chất mệnh đề phụ hay dùng các câu lặp lại làm cản trở động từ chính

    Tránh dùng từ vựng Latin hay từ vựng nhiều âm tiết (“illuminated,” “nevertheless,” “subsequently”)

    Không bao giờ diễn đạt suy nghĩ nội tâm thông qua hội thoại tự do gián tiếp hay các tự vấn được in nghiêng

    Không bao giờ đọc tên hay giải thích trực tiếp cảm giác của nhân vật (“anh ấy thấy buồn,” “cô ấy thấy sợ hãi”)

    GEORGE ELIOT

    LÀM:

    Xây dựng các câu dài có cấu trúc cân đối lồng ghép nhiều mệnh đề phụ được kết nối bởi dấu chấm phẩy hay dấu hai chấm

    Giới thiệu nhân vật với một cụm từ mô tả nhanh về thể chất hay địa vị trước khi nêu tên (“một người đàn ông trạc tuổi ngũ tuần, người mà…”)

    KHÔNG LÀM:

    Không bao giờ sử dụng các mẫu câu không hoàn thiện vì mục tiêu nhấn mạnh hay tạo nhịp điệu

    Tránh kể bằng thì hiện tại; mọi thứ diễn ra trong thì quá khứ với sự hồi tưởng có kiểm soát

    Không bao giờ sử dụng ngôn ngữ thông tục hay ngạn ngữ Mỹ; không dùng từ rút gọn trong lời kể

    Việc nhân rộng lực lượng robot và nhắc nhở chúng về nhiệm vụ dường như có hiệu quả, hoặc ít nhất cũng có hiệu quả một phần nào đó. (Khi tôi hỏi một người bạn giảng dạy tin học và công nghệ máy học (machine learning) ở U.C. Berkeley tại sao robot cần những con robot khác kiểm tra công việc của chúng, anh trả lời rằng, “Nghiêm túc 100% mà nói: Chẳng ai biết cả.”) Các phép so sánh biến mất. Tuy nhiên Claude thực hiện một số chỉ dẫn mới hơi nghiêm túc quá, vì bỗng dưng mọi đoạn văn giả đều toàn những nhân vật nhảy lên lưng ngựa, đi giao một kiện hàng quan trọng, hay là đang chạy. Dù vì lý do gì đi nữa thì điều này dẫn đến các câu rất ngắn, dễ dàng bị phát hiện là giả. Vậy nên tôi nới lỏng các luật lệ một chút và để Claude làm việc như thường với một cơ số các luật nghiêm ngặt về các từ vựng mơ hồ và các phép so sánh.

    Sau vài ngày thử nghiệm, tôi đăng một liên kết lên tài khoản X của mình. Trong năm ngày, tôi đã nhận được hơn 30 nghìn phản hồi. Những người tham gia có thể phân biệt được các đoạn văn thật - giả với tỷ lệ khoảng 52% - nói cách khác là có thể họ không thể thực sự phân biệt được. Nhưng khoảng 10% người chơi có vẻ khá giỏi bất kể họ đã từng đọc các tác phẩm gốc hay nhạy bén với tính chất của AI mà tôi vẫn chưa nhận ra.

    Đến lúc này, tôi đã tìm ra cách làm ra những bản sao giả tốt hơn một chút. Tôi đã điều động thêm một nhân viên AI khác và yêu cầu nó kiểm tra lại cả hai mẫu để tìm ra dấu hiệu giả. Và đến cuối tuần, tôi đã đánh lừa được hơn một nửa số người chơi trò chơi đó. Robot Bram Stoker là mẫu robot đánh lừa được nhiều người nhất. Chỉ có 17% người chơi có thể nhận ra đó là giả.

    4 May. I have spent the greater part of this morning at the window of my room and have given myself up to a course of reflection which I had hoped to avoid by means of constant activity, but which the absence of any occupation in this place has finally rendered unavoidable. The Count was last seen by me, so far as I can with certainty assert, on the evening of the second; and his absence has now extended through two nights and the better part of three days. I do not believe that he has left the castle. The horses are in the stable. The great door at the foot of the south stairs has been locked from within since Tuesday. I have walked the corridors of the three lower floors twice each night and have heard no sound but the wind in the chimney of the hall. And yet I am convinced, by a means I cannot explain, that he has been in some part of the castle during the whole of this interval, and that he has known of my walks.

    Lược dịch:

    Ngày 4 tháng 5. Sáng nay, tôi đã dành phần lớn thời gian bên cửa sổ phòng mình và chìm đắm trong những suy tư mà trước đó tôi đã muốn tránh bằng cách luôn hoạt động, nhưng cuối cùng tôi cũng đã không thể tránh khỏi bởi lẽ chẳng còn gì khác để làm ở nơi này. Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng, vào tối mùng 2 là lần cuối cùng mà tôi nhìn thấy Bá tước; và sự vắng mặt của ngài nay đã kéo qua 2 đêm và sang gần hết ngày thứ 3. Tôi không tin rằng ngài đã rời khỏi lâu đài. Những con ngựa vẫn đang ở trong chuồng. Kể từ hôm thứ 3, cánh cửa lớn ở chân cầu thang phía nam đã bị khóa từ bên trong. Tôi đã đi bộ dọc hàng lang của ba tầng dưới hai lần mỗi đêm và không nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng gió rít trong ống khói của đại sảnh. Thế nhưng, bằng một cách nào đó tôi không thể giải thích được, tôi tin chắc rằng ngài đã ở trong nơi nào đó của lâu đài trong suốt khoảng thời gian này, và ngài đã biết về những lần tôi đi dạo.

    Điều khiến tôi ấn tượng là, mặc dù đây chắc chắn là một bản sao chép tác phẩm của Bram Stoker tốt hơn so với các phiên bản trước đây của trò chơi, nó vẫn mô tả sự vắng mặt và trạng thái trì trệ. Người kể chuyện đang cố gắng tránh “quá trình suy ngẫm” thông qua “hoạt động liên tục”, nhưng không tìm thấy đủ việc phải làm để cho đầu óc mình bận rộn. Bá tước không thấy đâu, khiến người kể chuyện phải đi lang thang qua những hành lang trống trải nơi anh ta “không nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng gió rít trong ống khói ở đại sảnh”. Không phải tất cả các phiên bản giả đều chứa đựng mức độ trống rỗng như thế này, nhưng một số lượng đủ lớn cho thấy rằng mặc dù Claude có thể tạo ra các bản sao của các tác giả nổi tiếng thuộc miền truy cập công cộng - một bản sao đủ tốt để đánh lừa phần lớn độc giả, ngay cả những người tinh ý nhất, dù không phải là tất cả - thì nó vẫn không thể đảm bảo các nhân vật đó thực hiện được bất kỳ hành động nào đáng kể. Dù có thêm bao nhiêu thẻ gợi ý hay phản hồi cũng không thể khắc phục được vấn đề này; ngay cả khi tôi yêu cầu nó làm cho mọi thứ năng động hơn thì cái văn phong AI khô khan và dễ nhận biết hơn lại xuất hiện.

    Tôi lưỡng lự khi khẳng định đây là một chỉ dấu lớn nhất, bởi vì nghe có vẻ quá sức văn chương, hoặc thậm chí là sến súa - tôi hơi ngại ngùng để hoàn toàn đào sâu vào việc robot không thể thổi hồn vào một khung cảnh. Tôi sẽ để việc đó cho các nhà thơ và những người phản đối máy móc. Lời đóng góp khiêm tốn duy nhất của tôi trong cuộc đối thoại này là: nghệ thuật của văn học hư cấu phụ thuộc rất nhiều vào việc người đọc chấp nhận những đoạn văn miêu tả, giàu sức gợi không khí mà Claude dường như ưa thích, tựa như những gì nhà phê bình văn học James Wood đã gọi là “một cú lướt máy mượt mà”. Wood lập luận rằng những lựa chọn của một tác giả, dù lớn hay nhỏ, thì vẫn sẽ luôn nổi trên bề mặt. AI cũng đưa ra sự lựa chọn, không phải bằng cách dựa vào những suy tư cá nhân, chẳng hạn như một con phố Paris lúc hoàng hôn mà bằng cách cuỗm từ hầu hết mọi từ ngữ từng được viết ra. Nếu Claude thiên về viết những đoạn văn mà dường như chẳng có gì xảy ra, hàng lang thì luôn trống rỗng và các nhân vật không làm gì ngoài việc nhàn rỗi chạm vào đồ đạc gần đó, thì đó là vì chúng ta cũng viết như vậy.

    Tôi chắc rằng Claude sẽ sớm có thể khiến một trong những nhân vật này ít nhất là nhóm bếp hoặc lái xe ngựa đến Norwich, và tất cả những điều này sẽ chỉ giống như một sự cố nhỏ kỳ lạ. Tuy nhiên, cuối cùng tôi vẫn cảm thấy vui mừng trước thí nghiệm ngớ ngẩn về khả năng bắt chước của robot này, bởi vì không có chuyện tôi hay bất kỳ người tham gia thử nghiệm nào đi đến kết luận rằng chúng tôi muốn đọc văn do AI viết hay chúng tôi bị bỏ lại với sự vỡ lẽ rằng việc đọc và viết không còn cần thiết nữa.

    Mỗi khi tôi bắt đầu suy nghĩ về công nghệ này và tất cả những khả năng mà nó có để thay thế chúng ta, tôi đã tự nhắc nhở bản thân, gần như là để giữ sức khỏe tinh thần, rằng các kiện tướng cờ vua hàng đầu đã không thể đánh bại những máy tính chơi cờ vua giỏi nhất trong hai thập kỷ qua, vậy mà vẫn có hàng trăm nghìn trẻ em hiện đang theo dõi những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực cờ vua trên TikTok. Chúng ta vẫn trân trọng quá trình chơi cờ của con người và cách mà trò chơi kích thích trí não của chúng ta. Ngay cả khi máy tính đã có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược của con người thì sự vượt trội của máy móc hoàn toàn không liên quan gì đến lý do tại sao chúng ta chơi cờ.

    Tất nhiên, điều tương tự cũng sẽ đúng với việc viết, điều đó có nghĩa là chúng ta có thể loại bỏ cả chủ nghĩa bi quan và tất cả các biến thể và đảo ngược của câu nói “chữ viết vẫn còn mãi” (litera scripta manet) - và chỉ cần tin tưởng rằng con người sẽ luôn cần phải hiểu mọi thứ, và họ sẽ phải chuyển đổi những điều đó thành ngôn từ để có thể giao tiếp với những người khác. Việc bỏ qua quy trình đó sẽ luôn tạo ra cảm giác như đang gian lận, ngay cả khi trong tương lai gần có thể một phần ngôn từ chúng ta tạo ra đến từ robot. Khi đọc một email, một bài báo hoặc một truyện ngắn do AI viết, bạn sẽ có cảm giác khó chịu; đây không hẳn là một nỗi sợ hãi rằng sự hữu ích của con người trên Trái đất sắp kết thúc mà đúng hơn đó là cảm giác khó chịu và thất vọng tương tự như việc bạn phát hiện ra đối thủ của mình trong bộ môn cờ vua sử dụng phần mềm tự động để lên kế hoạch cho các nước đi tiếp theo. Chừng nào sự bất mãn đó còn tồn tại, thì một triệu mô hình ngôn ngữ lớn có thể viết ra một triệu bản sao của các tác phẩm văn học vĩ đại, và một số thậm chí có thể tình cờ khám phá ra những điều có thể mở rộng cách chúng ta viết câu, nhưng mối quan hệ cơ bản giữa con người và việc viết sẽ vẫn không thay đổi.

    Phan Võ Minh Nhân là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Nhân là công nghiệp văn hóa, chủ nghĩa tiêu dùng và quyền lực mềm. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: phanvominhnhan3569@gmail.com.

    Lê Ngô Huyền Trang là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Trang là xung đột di cư, luật nhân quyền quốc tế, ngoại giao gấu trúc, quyền lực mềm và ngoại giao công chúng theo đặc trưng Trung Quốc. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: tranngjudo@gmail.com.


    Không có nhận xét nào