Kỳ 5
Tác giả: Nguyễn Đông A
13/8/2026
Trái: Bưu điện Trung tâm Sài Gòn vào khoảng năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Phải: Bưu điện TP Hồ Chí Minh ngày nay, chụp năm 2023. Photo: Báo Lao Động
Sáng nay tôi ra Sài Gòn sớm. Nói thiệt, những chỗ này tôi đã ghé qua không biết bao nhiêu lần, quen đến mức nhắm mắt cũng hình dung ra từng góc phố. Nhưng đã trót mang cái nghiệp viết về Sài Gòn thì thế nào cũng phải quay lại, như người ta về thăm nhà cũ, biết trước sẽ gặp lại những gì mà vẫn cứ muốn đi. Tôi chọn xe bus, cái phương tiện rẻ nhất, mà mạng lưới thì giăng như tơ nhện khắp cùng thành phố. Xe giờ sạch sẽ, có máy lạnh, soát vé đàng hoàng, không còn cái cảnh chen chúc, móc túi, rạch giỏ như hồi xưa nữa. Người có tuổi như tôi ở Sài Gòn hình như được đi miễn phí, mà có tính tiền thì cũng chỉ vài ngàn bạc, đi đâu chẳng được. Vậy là tôi tà tà xuống trạm, ghé về phía Bưu Điện.
TÒA NHÀ GIỮ THỜI GIAN
Quận Nhứt có lắm bưu cục lâu đời, bưu điện Bến Thành trên đường Lê Lai, bưu điện Tân Định nép mình bên Hai Bà Trưng. Nhưng tôi muốn nói tới một nơi cổ kính hơn hết thảy, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, nằm sát bên hông Nhà thờ Đức Bà, ngay Công xã Paris.
Câu chuyện của tòa nhà này bắt đầu từ cái thời Sài Gòn còn chưa ráo mực chữ ký hiệp ước nhượng địa. Năm 1860, vừa giành được Gia Định chưa bao lâu, người Pháp đã vội vã khởi công Sở Dây thép, cái tên mà người dân quen gọi bưu điện thuở ấy, ở ngay giữa trung tâm thành phố, cạnh bên Vương cung Thánh đường. Ba năm sau, Sở điện báo Sài Gòn chính thức khánh thành, đặt nền cho những gì sẽ trở thành biểu tượng của đô thị này. Người vẽ nên hình hài đầu tiên của công trình không ai khác chính là Gustave Eiffel, cái tên về sau gắn liền với ngọn tháp sắt lừng danh giữa lòng Paris, với tượng Nữ thần Tự do đứng sừng sững nơi cảng New York, và ở Việt Nam, còn để lại dấu tay nơi cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng.
Nhưng nhu cầu gửi thư, gửi điện của dân chúng mỗi ngày một đông, cái sở nhỏ nhắn thuở đầu chẳng kham nổi. Năm 1886, người Pháp cho xây lại, quy mô lớn hơn, vẫn giữ lại phần nào dáng vóc cũ của Eiffel, nhưng lần này người đứng mũi chịu sào là kiến trúc sư Auguste Vildieu cùng cộng sự Alfred Foulhoux. Năm năm ròng rã, đến 1891 công trình mới hoàn thành, khoác lên mình cái vẻ vừa Gothic vừa Phục hưng, lại thêm chút hơi hướm thuộc địa Pháp. Một sự pha trộn là lạ mà hóa ra lại hài hòa đến không ngờ, như thể châu Âu và Đông Dương bắt tay nhau ngay trên mảnh đất này.
Đứng trước mặt tiền vàng nhạt điểm xanh lá, tôi cứ ngó mãi cái đồng hồ lớn ở chính giữa, nó đã gõ nhịp hơn trăm năm rưỡi nay, chứng kiến bao cuộc bể dâu của thành phố mà kim vẫn chạy đều, chẳng hề sai một khắc. Phía trên vành đồng hồ, người ta khắc tên và gương mặt những bậc danh nhân của ngành điện, ngành điện báo: Benjamin Franklin, Volta, Faraday, Ampère… như một lời nhắc rằng cái vật vô tri này ra đời từ trí tuệ của biết bao con người.
Bước chân vào bên trong, tôi có cảm giác mình vừa lạc sang một nhà ga châu Âu thế kỷ trước hơn là một bưu điện xứ Á Đông. Mái vòm cao vút, đỡ bởi bốn trụ sắt lớn tỏa ra bốn phía, từng đường nét chạm khắc nơi tiếp nối trụ và kèo đều tinh xảo, cầu kỳ đến độ khiến người ta phải ngước nhìn. Hai tấm bản đồ cổ vẫn treo hai bên cổng như từ thuở nào, một tấm vẽ đường dây điện báo miền Nam Việt Nam và Campuchia năm 1892, tấm kia vẽ Sài Gòn cùng vùng phụ cận cùng năm ấy. Không đơn thuần là vật trang trí, chúng như hai nhân chứng thầm lặng, kể lại cho ai muốn nghe câu chuyện của một thời đã xa.
Quầy nhận thư vẫn hoạt động, khách nước ngoài vẫn ghé đổi tiền, mua tem, mua vài món lưu niệm mang hồn Việt. Năm 2014 tòa nhà được sơn sửa lớn, lần đầu tiên kể từ sau 1975 nhưng cái cốt cách cổ kính thì vẫn y nguyên, giống như thời gian có chảy qua cũng chẳng làm phai được vẻ tráng lệ đã ăn sâu vào từng viên gạch.
NGƯỜI VIẾT THƯ CUỐI CÙNG
Một điều lạ mà tôi còn nhớ từ gần bốn chục năm trước, ở bưu điện này, và cả ở bưu điện Quận Năm ngày xưa, có cái nghề viết thư mướn, một nét văn hóa riêng, chẳng nơi nào có. Người gắn bó lâu nhất, cũng là người cuối cùng còn sót lại, là ông Dương Văn Ngộ.
Ông Dương Văn Ngộ vào tháng 7 năm 2019 tại Bưu điện trung tâm Sài Gòn. Author: Phan Diệp.
Ông vào nghề bưu tá từ năm mười sáu tuổi, ở bưu điện Thị Nghè, rồi mười tám tuổi thi đậu chân thư ký tại Bưu điện Sài Gòn. Tiếng Pháp ông học từ thuở tiểu học, đến năm ba mươi sáu tuổi lại được cử đi học thêm tiếng Anh ở trường Việt – Mỹ. Năm 1990, về hưu mà người còn khỏe mạnh, ông xin được ngồi lại ngay sảnh bưu điện, viết và dịch thư cho ai cần. Công việc ấy ông làm ròng rã đến tận cuối đời, chưa từng nghỉ một ngày, kể cả những năm chiến tranh khốc liệt nhất.
Tôi hình dung cảnh cụ mỗi sáng đạp xe tới, đậu vào bóng mát hàng cây, cười vồn vã chào những người bán bưu thiệp rong, rồi lôi từ trong cặp ra hai cuốn từ điển Anh – Pháp đã sờn gáy, cài tấm băng đỏ lên tay áo, dựng tấm biển nhỏ: “Nơi chỉ dẫn và viết giúp”. Khách của ông đủ hạng người. Anh tài xế miền sông nước nhờ viết thư đòi tiền bảo hiểm y tế cho ông chủ, cô gái trẻ đưa điện thoại Nokia nhờ dịch mấy dòng tin nhắn tiếng Pháp lãng mạn của người tình phương xa. Ông dịch ngay không cần nghĩ ngợi, rồi lặng lẽ nhìn cô gái mỉm cười thẹn thùng.
Khách hàng nữ hay gọi ông là “người viết thư tình”, người ta còn ví ông như ông mai bà mối, “có thể là hai hay ba đám cưới gì đó”, ông từng nói vậy, giọng nhẹ tênh như kể chuyện thiên hạ chứ không phải chuyện mình làm nên. Suốt mấy chục năm, ông nghe biết bao câu chuyện, buồn có, vui có, cả những chuyện tìm con thất lạc, tìm lại người thân sau chiến tranh.
Ông không thích email, không thích điện thoại. “Từ ngữ từ máy móc không có linh hồn”, ông nói vậy, và tôi nghĩ, có lẽ chính vì tin vào cái linh hồn ấy mà nét chữ tay của cụ, dù mộc mạc, vẫn chở được biết bao tâm sự của người đời đi xa đến vậy. Ông tự đặt cho mình những nguyên tắc chẳng ai bắt buộc. Chính xác, chuẩn mực, không thêm không bớt, không viết thư than nghèo kể khổ để trục lợi, không nhận công nhiều hơn mình bỏ ra. Mỗi lá thư chỉ lấy mười, mười lăm ngàn đồng, tùy lòng hảo tâm người ta. Ông nói, nghề này tiếng Anh gọi là “public writer”, người viết thư cho công chúng, cái tên dịch sát nghĩa nhất mà ông từng nghe.
Người bạn nghề của ông, ông Huỳnh Liếng, đã mất trước đó không lâu, và ông, khi ấy đã ngoài chín mươi, trở thành người viết thư thuê cuối cùng của cả Sài Gòn. Mong ước duy nhất của ông, giản dị đến nao lòng, mong thế giới này có thêm nhiều người như ông, như ông Liếng. Những người chịu ngồi xuống, chậm rãi, lắng nghe và viết hộ người khác những điều họ không tự nói ra được.
Rồi ông cũng đã về với đất, hưởng thọ chín mươi tư tuổi, ra đi nhẹ nhàng thanh thản tại nhà riêng. Ngồi ngẫm lại, tôi thấy tiếc. Tiếc không phải vì bưu điện thiếu đi một cái bàn gỗ mộc, mà tiếc vì thành phố này mất đi một nhân chứng biết lắng nghe, biết giữ im lặng đúng lúc, biết trân trọng từng con chữ như trân trọng một phận người. Trong cái thời mà ai cũng gõ bàn phím, gửi tin nhắn trong tích tắc, lại có một ông già ngồi giữa sảnh bưu điện, cặm cụi viết tay từng dòng. Đó không chỉ là một nghề, mà là một cách sống, một cách giữ cho lòng người khỏi trôi quá nhanh theo thời đại.
CON ĐƯỜNG MANG BA CÁI TÊN
Rời bưu điện, tôi rẽ vào Đồng Khởi, đi về phía bờ sông. Con đường chẳng dài, sáu bảy trăm thước là cùng, mà biết bao nhiêu chuyện để kể.
Đường này có từ trước khi Pháp đặt chân tới Sài Gòn, thời ấy gọi nôm na là đường số 16. Năm 1865, người Pháp đặt lại tên Catinat, theo tên một vị Thống chế Pháp thời vua Louis XIV, cũng là tên chiếc tàu chiến từng tham chiến ở Sài Gòn năm 1859. Đến năm 1954 đổi thành Tự Do, và sau 1975 mang tên Đồng Khởi cho tới bây giờ. Ba cái tên, ba thời kỳ, mà con đường thì vẫn chảy từ Nhà thờ Đức Bà ra tới Bến Bạch Đằng, như một dòng sông nhỏ giữa lòng phố thị.
Đầu thế kỷ 20, đường Catinat đã tấp nập tiệm buôn của người Hoa, người Ấn. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong, trong cuốn Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản năm 1909, tả con đường ấy bằng những câu lục bát nhẹ nhàng: “Nhứt là đường Ca-ti-na, Hai bên lầu các, phố nhà phân minh…” Đọc lại những dòng ấy, tôi hình dung ra cảnh phố xá rực rỡ đèn giăng, tiệm may, tiệm sách chen vai nhau, và cái nhịp sống phong lưu của một thời đã xa lắc. Con đường ấy còn đi vào cả văn chương Pháp, qua tiểu thuyết L’Amant của Marguerite Duras, người từng sống nhiều năm nơi đây, để rồi sau này chuyển thành bộ phim cùng tên, được đề cử Oscar năm 1993.
.
Trái: Đường Catinat vào khoảng những năm 1930. Phải: Đường Tự Do năm 1968. Author: Pierre Nordique
Dọc con đường, từng khách sạn, quán xá lần lượt hiện ra như những trang sử sống: khách sạn Majestic đầu đường vẫn còn hoạt động tới nay; Continental khánh thành năm 1880, sang trọng bậc nhất thời bấy giờ; Nhà hát Thành phố dựng năm 1900 ngay giao lộ với đường Lê Lợi; khách sạn Caravelle từng là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng tin quốc tế. Nhà báo Lucien Bodard từng ví con đường này là “cái cuống rốn của Sài Gòn”, kiểu nói nghe ngồ ngộ mà thấm thía, bởi đây đúng là nơi mọi mạch sống thương mại, văn hóa của thành phố quy tụ về.
Trong số quán xá ấy, có ba cái tên làm nên một “trục văn hóa không tên”: Givral, La Pagode, Brodard. Givral, khai sinh cuối năm 1950 với cái tên La Fontaine, đến 1958 mới đổi thành Givral, tọa lạc ngay tầng trệt Thương xá Eden, đối diện trụ sở Hạ nghị viện cũ, nay là Nhà hát Thành phố. Chính vì cái vị trí đắc địa ấy mà quán trở thành nơi phóng viên, chính khách tụ tập nghe ngóng tin tức nóng hổi, đến mức có biệt danh là “Radio Catinat”.
La Pagode thì lại là chốn của văn nghệ sĩ. Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, cứ tan sở chiều là kéo nhau tới, ngồi thành từng nhóm nhỏ, chuyện trò rôm rả. Còn Brodard, góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, lại đông vui về khuya, nơi tụ họp của dân chơi đêm Sài thành, những “anh hùng hảo hớn” với biệt danh nghe đã thấy giang hồ. Ba quán cà phê ấy, giờ chỉ còn trong ký ức người già, mà cái “trục văn hóa không tên” ấy vẫn cứ sống trong từng trang hồi ký, từng câu chuyện kể lại của những người từng một thời ngồi đó, nhấp ly cà phê, ngó ra đường phố mà bàn chuyện thế sự.
Givral, cùng Thương xá Eden, đã bị dỡ bỏ năm 2010 để nhường chỗ cho một tổ hợp thương mại mới. Quán có mở lại ít lâu ở vị trí cũ, rồi cũng đóng cửa chẳng bao lâu sau đó. Tôi đứng nhìn cái góc phố ấy bây giờ, kính cường lực sáng loáng, người qua lại tấp nập, mà không khỏi chạnh lòng. Nơi từng vang lên bao câu chuyện thời cuộc, giờ chỉ còn là một góc thương mại vô danh giữa muôn ngàn góc phố khác của Sài Gòn hiện đại.
Đi hết con đường ấy, ngoái lại nhìn tháp chuông nhà thờ, mái ngói đỏ bưu điện, tôi chợt nghĩ, Sài Gòn hay ở chỗ, nó không giữ ký ức bằng cách đóng khung, bảo tàng hóa, mà giữ bằng cách để những câu chuyện cũ cứ lặng lẽ sống chung với nhịp sống mới. Một ông già viết thư mướn ngồi cạnh dòng người bấm điện thoại, một góc phố xưa nằm lọt thỏm giữa cao ốc kính. Cái cách sống chung ấy, mới là thứ làm nên hồn cốt của một thành phố đã đi qua bao lớp bể dâu mà vẫn chưa từng đánh mất mình.
*****
ĐỒNG KHỞI – NƠI THỜI GIAN CÒN Ở LẠI
CONTINENTAL – KHÁCH SẠN GIỮ HỒN PHỐ CỔ
Những lần đi ngang đường Đồng Khởi, tôi cứ ngỡ chỉ cần chậm bước một chút là sẽ nghe được tiếng thì thầm của quá khứ vọng về từ những hàng cây, những mái nhà và từng viên gạch cũ. Giữa đoạn phố lúc nào cũng đông đúc, nhộn nhịp ấy, nổi bật lên một tòa nhà màu trắng mang vẻ đẹp trầm mặc mà sang trọng. Đó là khách sạn Continental, công trình được xem như điểm khởi đầu của ngành du lịch hiện đại ở Sài Gòn.
Trái: Đường Tự Do và Khách sạn Continental trước năm 1975. Nguồn: internet. Phải: Khách sạn Continental, chụp năm 2008. Author: Franklin Heijnen
Năm 1878, khi chính quyền Pháp vừa đặt nền cai trị trên vùng đất này chưa lâu, Pierre Cazeaux, một thương nhân chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng và đồ gia dụng, đã nảy ra ý định xây dựng một khách sạn thật đàng hoàng để đón những người đồng hương từ chính quốc sang Đông Dương. Sau hai năm miệt mài thi công, đến năm 1880, Continental chính thức mở cửa, trở thành khách sạn sang trọng đầu tiên của Sài Gòn. Cũng từ giai đoạn ấy, hàng loạt công trình mang dấu ấn kiến trúc Pháp lần lượt xuất hiện như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm rồi Tòa Đô chánh, góp phần định hình khu trung tâm hành chính, văn hóa của thành phố.
Ít ai biết rằng con đường Continental tọa lạc ban đầu chỉ mang cái tên rất khô khan là Đường số 6. Đến năm 1865, con đường được đổi tên thành Catinat, nơi tập trung đông người Pháp sinh sống và buôn bán nhất Sài Gòn thời bấy giờ. Chính trên con đường ấy, năm 1911, Công tước De Montpensier đã dừng chân trong chuyến hành trình từ Sài Gòn sang Angkor. Ông cũng là người đầu tiên đưa ô tô vào Việt Nam, trong khi đường sá lúc đó còn quá sơ sài để phương tiện này có thể vận hành thuận lợi. Chuyến đi nhiều gian nan, vậy mà Continental lại khiến ông yêu thích đến mức quyết định mua lại khách sạn. Sau đó, trong một lần ghé Bình Thuận, ông tiếp tục mua một quả đồi hướng ra biển Phan Thiết để xây biệt thự, nơi người dân quen gọi bằng cái tên Lầu Ông Hoàng.
Đến năm 1930, De Montpensier chuyển nhượng Continental cho Mathieu Francini. Nghe tin ấy, có người bạn đã đùa rằng: “Mathieu, anh vừa mua được cả lịch sử của Sài Gòn.” Càng ngẫm, tôi càng thấy câu nói ấy không hề quá lời. Theo chính tư liệu của khách sạn, Francini vốn là một nhân vật có gốc gác Corse và từng nổi danh trong giới giang hồ, nhưng lại nên duyên với bà Lê Thị Trọng, con gái Đốc phủ Lê Văn Mầu ở Mỹ Tho. Cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông phương Tây và một người phụ nữ Việt Nam đã sinh ra Philippe Francini, người tiếp tục quản lý Continental trong suốt giai đoạn chiến tranh từ năm 1965 đến năm 1975.
Trải qua hơn một thế kỷ rưỡi, Continental vẫn giữ nguyên dáng vóc khiêm nhường của nó chỉ một trệt ba lầu, nhưng mái ngói, tường gạch dày, cột trụ phù điêu đều đậm chất Pháp cổ điển. Người ta sơn nó màu trắng, để chống chọi cái nắng nhiệt đới gay gắt, và để tôn lên vẻ sang trọng thanh nhã, bớt đi cái nặng nề của một khối kiến trúc đồ sộ. Các kiến trúc sư thuở ấy cũng khéo léo lắm. Họ tận dụng ánh sáng và gió trời để phòng ốc luôn thoáng mát, trần cao đến bốn mét, tường dày chống nóng, nhưng vẫn chừa riêng những căn phòng khuất nắng cho ai không muốn bị mặt trời đánh thức. Ở giữa khuôn viên hình chữ nhật là một khu vườn, nơi ba cây hoa sứ trồng từ năm 1880 đến nay vẫn xanh tốt, như ba chứng nhân lặng lẽ của bao cuộc đổi thay.
Những căn phòng nơi đây từng đón biết bao tên tuổi lớn như thi hào Ấn Độ Tagore, người đoạt Nobel Văn chương 1913; văn hào Pháp André Malraux; nhà văn Anh Graham Greene, người đã sống và viết nên “Người Mỹ trầm lặng” ngay tại đây vào năm 1951, giữa những chuyến đi về Sài Gòn – Bến Tre. Chính Marc Phillip Yablonka, một phóng viên chiến trường Mỹ từng nhiều năm bám trụ Sài Gòn, đã thốt lên một câu mà tôi cho là hay nhất về nơi này: “Nếu những bức tường của khách sạn Continental biết nói, chúng sẽ kể cho bạn rất nhiều điều.” Quả vậy, bức tường nào có biết nói, nhưng người đời sau vẫn cứ ngồi đó, dưới bóng cây sứ già, mà tưởng tượng ra bao nhiêu câu chuyện đã từng thì thầm qua đây.
Vào thập niên 1960-1970, chính quyền Sài Gòn buộc các cơ sở thương mại phải treo bảng hiệu tiếng Việt, thế là Continental mang một cái tên nghe lạ tai, “Đại Lục Lữ Quán”. Đến 1986 thì giao về cho Saigontourist quản lý, và năm 2012 được công nhận di tích cấp thành phố. Continental cũng góp mặt trong hai bộ phim từng đoạt giải quốc tế: “Đông Dương” của Régis Wargnier năm 1992, và “Người Mỹ trầm lặng” bản 2002 của Phillip Noyce, như một minh chứng rằng vẻ đẹp cổ kính của nó chưa bao giờ phai nhạt qua ống kính điện ảnh.
Ngày nay, khách sạn cung cấp sáu loại phòng, từ Superior yên tĩnh, Deluxe nhìn vườn hay nhìn phố, đến Opera Wing nhìn thẳng ra Nhà hát Thành phố, và dòng Heritage đặc biệt dành cho ai muốn sống trọn một đêm giữa quá khứ. Tầng trệt có nhà hàng Le Bourgeois, phục vụ từ sáng sớm đến khuya với đủ món Á Âu như phở đại lục, hủ tíu cá, bò kiểu Âu. Lại có sảnh vườn Continental Patio hơn 500 mét vuông, nơi ba cây sứ trăm tuổi vẫn đứng chứng giám cho bao đám cưới được tổ chức dưới bóng chúng. Khách sạn có hai phòng tiệc VIP, một phòng mang phong cách “Đế vương” sang trọng, gỗ mạ vàng, sứ trắng, nến lung linh; một phòng nhỏ hơn, ấm cúng cho những cuộc gặp riêng tư.
Ngồi mà nghĩ lại, tôi thấy Continental không chỉ là một khách sạn. Nó là cái cách mà lịch sử chọn để tồn tại, lặng lẽ đứng đó, để cho những ai đi ngang qua Đồng Khởi hối hả hôm nay, chợt dừng chân một giây, và cảm nhận được rằng thời gian, đôi khi, cũng biết giữ lời hứa với những viên gạch cũ.
GRAND VÀ MAJESTIC – HAI NGƯỜI BẠN CÙNG MỘT CON ĐƯỜNG
Nói đến khách sạn lâu đời của Sài Gòn, người ta thường nhắc tới ba cái tên, và Continental chỉ là một trong số đó. Cách nó không xa, tại số 8 Đồng Khởi, khách sạn Grand ra đời năm 1930. Ban đầu chỉ là một cửa hàng giải khát bé nhỏ, cho đến khi Henry Édouard Charigny de Lachevrotière, tổng biên tập một tờ báo Pháp, xin được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Bảy năm sau, nó đổi tên thành Saigon Palace; đến 1958 lại khoác thêm cái tên Việt, Sài Gòn Lữ Quán. Rồi năm 1978, một Saigon Palace khác mọc lên ở số 16 Ngô Đức Kế, để rồi năm 1989 cả hai hợp nhất thành khách sạn Đồng Khởi. Sau bao lần đổi tên, đổi chủ, đến 1998 nó mới thật sự “lột xác”, trở thành một trong những khách sạn năm sao có tiếng của thành phố. Vòng đời ấy, ngẫm ra, cũng lận đận chẳng kém gì một kiếp người, sinh ra khiêm nhường, trải qua bao lần thay tên đổi họ, rồi mới tìm được chỗ đứng xứng đáng.
Còn Majestic thì khác, nó mang trong mình một niềm tự hào riêng. Đây là khách sạn năm sao đầu tiên do chính người Việt bỏ vốn đầu tư, tự tay quản lý và điều hành. Người dựng nên nó là Hui Bon Hoa, người dân quen gọi thân mật là Chú Hỏa, một thương gia Việt gốc Hoa từng giàu có bậc nhất đất Sài Gòn – Gia Định thuở ấy. Tên tuổi ông gắn liền với biết bao công trình đồ sộ khác: Bảo tàng Mỹ thuật, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, chợ Bình Tây, chùa Phụng Sơn… Sự giàu có của ông, người đời kể lại, còn phủ thêm một lớp huyền thoại bí ẩn, thực hư khó tường.
Trái: Khách sạn Majestic giữa thế kỷ XIX. Phải: Khách sạn Majestic ngày nay. Photo: Vietnam Finance
Năm 1925, ngay góc đường Catinat và Quai de Belgique, nay là Đồng Khởi giao Tôn Đức Thắng Chú Hỏa cho dựng lên Majestic, ba tầng lầu, bốn mươi bốn phòng ngủ, theo lối kiến trúc hiện đại Pháp do một kiến trúc sư Pháp vẽ kiểu. Năm 1948, khách sạn được giao cho Sở Du lịch và Triển lãm Đông Dương, dưới sự điều hành của ông Francini Mathieu. Vâng, chính là ông chủ Continental năm nào, một sự trùng hợp khiến tôi không khỏi bật cười khi nghĩ đến cái mạng lưới quan hệ chằng chịt của giới thượng lưu Sài Gòn thuở trước.
Đến năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho xây thêm hai tầng, một phòng họp quốc tế, một nhà hàng theo bản vẽ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, và đổi tên thành Khách sạn Hoàn Mỹ. Nhưng số phận không chiều lòng người. Năm 1975, Majestic trúng pháo, hư hại nặng nề, rồi được đổi tên thành Cửu Long, dù cái tên giao dịch Majestic vẫn được giữ lại trong lòng người Sài Gòn như một thói quen khó bỏ. Năm 1994, khách sạn được sửa chữa lại theo lối kiến trúc châu Âu thời Phục Hưng; đến 1997 đạt chuẩn bốn sao, và 2007 vươn lên năm sao, ông Tào Văn Nghệ là Tổng giám đốc thời ấy. Năm 2011, Saigontourist còn công bố một dự án mở rộng trị giá gần hai tỷ đô, dự tính xây thêm hai tòa tháp hai mươi mấy tầng, nâng tổng số phòng lên hơn năm trăm.
Ngót một thế kỷ tồn tại, Majestic đã đón biết bao bậc vương giả và danh nhân: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, Thái tử Đan Mạch, công chúa Thái Lan, minh tinh Catherine Deneuve, giáo sư Trần Văn Khê… Một danh sách dài đến mức tôi tự hỏi, có bao nhiêu câu chuyện đời đã từng lặng lẽ diễn ra sau những cánh cửa phòng nơi đây, mà chẳng ai từng kể lại.
Ba khách sạn, ba số phận, nhưng cùng nằm trên một con đường, cùng chia sẻ một dòng lịch sử. Tôi cứ hình dung, nếu Continental, Grand và Majestic có thể trò chuyện với nhau vào những đêm khuya vắng khách, chắc chúng sẽ kể cho nhau nghe biết bao chuyện đời chồng chéo, biết bao ông chủ đã đến rồi đi, biết bao cuộc chiến đã qua trên chính con phố mà chúng đứng.
NHÀ HÁT THÀNH PHỐ – NỐT NHẠC GIỮA LÒNG PHỐ CỔ
Đi hết dãy khách sạn trên con đường Tự Do xưa, tôi muốn dừng chân trước một công trình khác cũng mang trong mình cả trăm năm ký ức, Nhà hát Thành phố, hay còn gọi Nhà hát Sài Gòn, tọa lạc ngay Công trường Lam Sơn, mặt tiền nhìn thẳng ra Đồng Khởi.
Câu chuyện của nó bắt đầu từ rất sớm, ngay sau khi Pháp chiếm được Nam Kỳ năm 1863, khi chính quyền Pháp mời một đoàn hát từ mẫu quốc sang để giải khuây cho đám lính viễn chinh. Ban đầu chỉ diễn tạm trong nhà gỗ của dinh Thủy sư đề đốc, rồi dời sang một nhà hát tạm ở ngay vị trí khách sạn Caravelle bây giờ. Mãi đến năm 1898, công trình chính thức mới được khởi công, và ngày đầu năm 1900 thì khánh thành, do ba kiến trúc sư người Pháp Félix Olivier, Eugène Ferret và Ernest Guichard thiết kế, theo phong cách “flamboyant” thịnh hành thời Đệ Tam Cộng hòa Pháp, lấy cảm hứng từ hai công trình lừng danh: Cung điện Garnier và Petit Palais.
Tôi đặc biệt thích cái cách người ta miêu tả sự tinh xảo của nó. Từng mảng phù điêu, từng bức tượng nổi ở mặt tiền lẫn nội thất đều được một họa sĩ danh tiếng bên Pháp vẽ mẫu, rồi gửi vượt biển sang tận đây. Nghĩ mà thấy lạ, giữa cái nắng nhiệt đới gay gắt của Sài Gòn, lại mọc lên một công trình mang trọn vẹn hồn cốt của trời Âu, tỉ mỉ đến từng đường nét đá granite, từng ngọn đèn chùm pha lê.
Trái: Nhà hát vào thời Pháp thuộc. Author: Haut commissariat de France pour l’Indochine. Phải: Nhà hát vào năm 1967, lúc bấy giờ là tòa nhà Quốc hội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Author: Pierre Nordique
Nhưng không phải ai cũng ưng cái sự cầu kỳ ấy. Người ta chê mặt tiền nhà hát rườm rà quá đỗi, nên đến năm 1943, để “trẻ hóa” phong cách, một số phù điêu, tượng nữ thần nghệ thuật cùng các dây hoa trang trí đã bị gỡ bỏ. Rồi một năm sau, tai họa lớn hơn ập đến. Máy bay Đồng Minh oanh tạc, nhà hát hư hại nặng, phải đóng cửa. Năm 1954, nơi đây tạm làm chỗ trú cho dân Pháp di cư từ miền Bắc vào theo Hiệp định Genève; năm 1955 được tu sửa nhưng lại khoác lên mình một chức năng hoàn toàn khác. Trụ sở Hạ nghị viện của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Một nhà hát, bỗng chốc thành nơi tranh luận chính trị, kể cũng là một khúc quanh trớ trêu của lịch sử.
Năm 1967, trước sân nhà hát người ta còn dựng một tượng đài Thủy quân lục chiến cao chín mét, trong tư thế xung phong hướng thẳng vào tòa nhà. Dư luận thời ấy xì xào cho rằng đó là điềm gở, quân đội mà lại chĩa súng vào chính Quốc hội của mình. Sau 1975, tượng đài bị giật đổ, khu vườn trở lại vẻ bình yên vốn có, dù bệ tượng cũ vẫn còn trơ trọi mãi đến tháng 12 năm 1997, khi thành phố quyết định dựng lên đài phun nước cùng bức tượng đá hoa cương đỏ mang tên “Tình mẫu tử”, hình ảnh người mẹ ôm con, được tác giả Nguyễn Quốc Thắng mô tả là “bố cục theo hình khối tròn… người mẹ bao giờ cũng che chở cho con”. Dù sau này có tranh cãi về bản quyền với một tác phẩm cùng tên bên Trung Quốc, bức tượng ấy đến nay vẫn đứng đó, lặng lẽ như một lời nhắc về tình thân giữa bao đổi thay thời cuộc.
Sau năm 1975, nhà hát mới được trả lại đúng chức năng nguyên thủy, nơi trình diễn nghệ thuật. Năm 1998, một đợt trùng tu lớn được tiến hành với phương châm giữ nguyên phong cách kiến trúc ban đầu. Phục chế lại cả những phù điêu, tượng đã mất từ 1943. Đến tháng 11 năm 2007, một dự án tân trang khác lại được thực hiện, từ việc lợp lại mái ngói đúng khuôn mẫu năm 1900, thay ghế đệm êm ái hơn (dù số chỗ ngồi giảm từ 559 xuống còn 500), cho đến trùng tu từng bức tượng, từng đường điêu khắc trên tường. Dự án hoàn tất cuối năm 2009, và thành phố Lyon bên Pháp còn tài trợ 160.000 euro để lắp đặt hệ thống chiếu sáng nghệ thuật về đêm để nhà hát, khi lên đèn, lại khoác lên mình vẻ lộng lẫy như thuở ban đầu.
Ngày nay, với tổng diện tích 3.200 mét vuông và sức chứa 1.800 chỗ, Nhà hát Thành phố là nơi diễn ra không biết bao nhiêu chương trình đặc sắc: À Ố Show đưa khán giả về lại những miền quê miền Nam mộc mạc qua ngôn ngữ xiếc tre và múa đương đại; The Mist tái hiện đời sống người nông dân gắn bó với cây lúa từ sớm mai đến chiều tà; Teh Dar Show mở ra thế giới huyền bí của người K’ho vùng cao nguyên; rồi những đêm Opera Gala vang lên giai điệu bất hủ của Mozart, Bach, Beethoven.
Nhà hát thành phố hiện nay. Photo: Báo Người Lao Động
Mỗi lần đứng trước Nhà hát Thành phố vào buổi tối, khi ánh đèn đã phủ lên mặt tiền cổ kính một màu vàng ấm, tôi thường để lòng mình trôi theo những nghĩ suy rất đỗi vu vơ. Một công trình văn hóa nghệ thuật đi qua năm tháng, lại trở thành nơi bàn chuyện chính sự, ở ngay giữa lằn ranh của những họng súng chĩa vào nhau, vậy mà cuối cùng vẫn trở về đúng với sứ mệnh đầu tiên của mình. Thời gian có thể làm cũ đi một công trình, có thể phủ lên nó biết bao dấu vết của lịch sử, nhưng cũng chính thời gian đủ sức trả mọi thứ về đúng giá trị vốn có. Dẫu số phận từng nhiều lần rẽ sang những ngả đường khác, nơi này vẫn tìm được lối trở về với chính mình.
Rồi tôi chợt nhận ra, giữa nhịp sống tất bật của Sài Gòn hôm nay, Continental, Grand, Majestic và Nhà hát Thành phố vẫn lặng lẽ đứng đó như những chứng nhân của thời gian. Chúng không cất lời, nhưng trong từng bức tường, từng ô cửa, từng khoảng hiên cũ dường như vẫn cất giữ biết bao câu chuyện của một thành phố đã đi qua bao lần đổi thay.
(còn nữa)
Nguyễn Đông A
Không có nhận xét nào