Header Ads

  • Breaking News

    Văn Hoá Đại Việt Trong Thời Tự Chủ (thế kỷ X – XIX) Bài 3

    Phạm Hồng Lam

    Khởi đăng: July 31, 2026

    Lễ xướng danh trường thi Hương tại Nam Định năm Mậu Tý (1888). Author: J. S. Source: Journal des Voyages

    Bước vào thế kỉ thứ X nhà Đường (617-907) bên Trung Hoa tới hồi mạt vận. Trung Hoa rơi vào li loạn. Lần lượt năm ông vua tranh nhau xưng đế, mỗi người vài năm. Vì thế sử gọi giai đoạn này là thời Ngũ Quý (Ngũ Đại).

    Vì không còn nắm giữ được các thuộc địa nữa, nhà Đường phải chấp nhận để cho một hào phú địa phương tên là Khúc Thừa Dụ làm tổng quyền cai trị Giao Châu. Về sau con cháu họ Khúc lại bị Tàu tiêu diệt, nên tướng Dương Diên Nghệ đứng ra đánh đuổi các thái thú về nước. Họ Dương sau đó bị nội tướng Kiều Công Tiễn đảo chánh giết chết. Tướng Ngô Quyền, con rể của Dương Diên Nghệ, cất quân trị Tiễn. Tiễn cho người sang cầu cứu quân Tàu. Vua Nam Hán sai con mình, thái tử Hoàng Thao, dẫn đại quân sang Giao Châu. Đại quân này đã bị Ngô Quyền dùng mưu đóng cọc nhọn xuống lòng sông đánh tan ở sông Bạch Đằng [1]. Hán đế kinh hoàng trước tin con chết. Từ đó không còn tính chuyện sang đánh Giao Châu nữa.

    Với chiến thắng Bạch Đằng (939) Ngô Quyền đã cởi bỏ được ách Bắc thuộc kéo dài ngàn năm trên đất Việt và mở đường độc lập cho các triều đại Đinh, (tiền) Lê, Lí, Trần, (hậu) Lê về sau, khiến Đại Việt bước vào một thời hoàng kim văn minh rực rỡ.  

    1. Nhà Lí: Bình Minh Đại Việt (1009-1225)

    Vừa dành lại được nước, trăm sự còn khó khăn, các triều Ngô, Đinh (Tiên Hoàng) và (tiền) Lê phải quẩn quanh với việc trị an, chưa làm được gì nhiều về mặt văn hoá.

    Văn minh văn hoá Việt bắt đầu trỗi dậy dười thời nhà Lí (1009-1225).

    Về mặt quân sự, nhà Lí bình Chiêm-thành mở thêm được phần đất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên hiện nay. Vì nhà Tống bên Tàu cứ lăm le đem quân sang quấy phá, vua Lí Nhân Tông đã cử tướng Lí Thường Kiệt hành binh sang bình định đất Quảng Châu.

    Về chính trị xã hội, họ Lí cho dời kinh đô từ Hoa Lư, Thanh Hóa về phần đất Hà Nội ngày nay và đổi tên thành Thăng Long Thành (1010), đổi tên nước thành Đại Việt (1054-1802); nhà vua cải tổ hành chánh, đặt ra 9 phẩm trật quan lại giúp vua cai trị quốc gia; khởi công đắp đê sông Hồng; điều chỉnh thuế má; ra lệ cấm không được mua bán con trai tới tuổi thành niên về phục dịch…

    Triều Lí khai mở văn học: xây Văn Miếu (1070) thờ Khổng-tử và các vị tiên hiền, đặt ra khoa thi Tam Giáo (1075), mở trường Quốc Tử Giám (1076). Nho học ở Đại Việt bắt đầu thịnh lên từ đó. Triều Lí cũng là thời cực thịnh của Phật và Lão, nhất là Phật Giáo. Các vua Lí hầu hết xuất thân từ cửa chùa. Sử gia Lê Văn Hưu (tk. 13.) cho biết, thời đó có tới nửa nước mặc áo cà-sa, chùa chiền mọc xen kẽ với nhà dân, ngay riêng kinh đô cũng đã có hàng ngàn sư sãi. Cố vấn và gia sư triều đình đều là những vị sư kiến thức thâm hậu như Ngô Chân Lưu (933-1011), Từ Đạo Hạnh (?-1122), Vạn Hạnh (?-1018).

    Có thể nói đời Lí là thời của văn minh phật giáo.

    2. Nhà Trần: Hoàng Kim Đại Việt (1225 – 1413)

    Bước sang đời Trần, Phật và Lão Giáo ở trong giai đoạn đầu vẫn rực rỡ. Song song, vì nhu cầu xây dựng chính quyền trung ương và tăng cường cho bộ máy hành chính để quản trị đất nước ngày càng mở rộng, chính quyền tăng gia cổ vũ và phát triển Nho học. Thời Lí mới có các khoa thi Tam Giáo, nghĩa là ai muốn làm quan thì phải thông thạo giáo lí Phật, Lão và Khổng. Giờ đây nhà Trần mở thêm các khoa thi Hội (1232), Đình (1374), Hương (1396), mà nội dung thi cử dần dần chỉ còn lại Nho Giáo. Nho học càng phát triển, tầng lớp nho sĩ càng gia tăng. Và giai tầng học thức mới này càng ngày càng đẩy sư sãi và đạo sĩ vào hậu trường chính trị. Gần về cuối đời Trần trở đi, nho gia bắt đầu tấn công loại trừ Phật Giáo, đồng hoá Phật Giáo với mê tín dị đoan. Cuộc “bách hại” nhẹ nhàng này tiến hành dai dẳng với sự tiếp tay của triều đình cuối cùng đã loại được Phật. Sư sãi rút lui vào chùa, giáo lí mất đi những yếu tố tích cực và cao siêu, để biến lần thành một loại “Phật Giáo bình dân” pha trộn nhiều yếu tố tiêu cực.

    Về mặt chính trị quân sự những cuộc chinh phạt quân Chiêm và nhất là ba lần chiến thắng vinh quang quân Mông-cổ, sau khi vó ngựa đạo quân này đã dẫm nát lục địa Á châu, đã nói lên khả năng đoàn kết và sức mạnh tinh thần ít có của vua quan và nhân dân Việt thời đó.

    Văn học cũng được mùa. Lê Văn Hưu với bộ sử đồ sộ “Đại Việt Sử Kí Toàn Thư” (1272), Hàn Thuyên với những vần thơ chữ Nôm đầu tiên (1282), Trần Hưng Đạo với “Hịch Tướng Sĩ” và “Binh Thư Yếu Lược” (1284), Mạc Đĩnh Chi với “Ngọc Tỉnh Liên Phú” (1304), Lê Tắc với “An Nam Chí Lược” (đầu tk. 14.), Lí Tế Xuyên với “Việt Điện U Linh Tập)… Những nhà nho thâm hậu nhất, văn võ song toàn đều xuất hiện vào thời này: Trần Quang Khải (1241-1294), Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), Trần Nguyên Hãn (1320-1390), Trần Hưng Đạo (?-1300), Trương Hán Siêu (?-1354), Mạc Đĩnh Chi (?-?), Chu Văn An (?-?), về sau có Nguyễn Trãi (1386-1442)…

    3. Nhà Lê: Hoàng Hôn Đại Việt (1428-1788)

    Các vị vua cuối đời nhà Trần trở nên suy nhược. Triều đình thì phung phí chuyên quyền; nho sĩ chiếm độc quyền và trở thành giai tầng ưu đãi nên dần quên lí tưởng; dân tình đói khổ vì loạn lạc (quân Chiêm kéo ra tàn phá ngay cả Thăng Long). Nhà Minh nhân cơ hội cất quân sang chiếm Đại Việt.

    Đất nước lại một lần nữa rơi vào ách thống trị của Bắc phương, kéo dài 13 năm (1414-1427).

    Thời gian Bắc thuộc lần này tuy ngắn, nhưng vô cùng tai hại về mặt văn hoá xã hội. Với chính sách đồng hoá toàn diện, nhà Minh cho tịch thu đem đốt hoặc mang về xứ mọi sách vở, tài liệu và các sản phẩm, di tích văn hoá Việt [2]. Họ áp đặt phong tục, tập quán, lối ăn mặc, tổ chức hành chánh và Nho học của họ vào đất Việt. Nguy hại hơn cả là sự áp đặt Tống Nho. Đây là một thứ Nho đã bị bóp méo, xuyên tạc nhằm thoả mãn nhu cầu chuyên chế, đã được Chu Hi hệ thống lại và đem làm học trình bắt buộc cho các sĩ tử Tàu từ nhiều trăm năm trước. Hoàng hôn nho học của Tàu được kéo xuống che kín luôn Đại Việt từ đây.

    Những cải cách có một không hai của Hồ Quý Li (1400-1407) như dùng tiền giấy thay tiền kẽm, mang chữ Nôm và Toán pháp vào thi cử vì vậy đã không thực hiện được.

    Trước cảnh khốn khổ của 13 năm nô lệ đó một số thanh niên hào kiệt đã cùng Lê Lợi kết ước tại rừng núi Lam Sơn, thề quyết kháng chiến đánh đuổi quân Minh. Cuộc kháng chiến vô cùng cam go, nhưng nhờ sự yểm trợ muôn lòng như một của người dân và đặc biệt nhờ trí tuệ của nhà nho Nguyễn Trãi cuối cùng kháng chiến Lam Sơn đã thành công, đuổi quân xâm lược, trả lại độc lập cho dân tộc.

    Lê Lợi, tức Lê Thái Tổ, mở ra triều đại nhà (hậu) Lê, kéo dài hơn ba thế kỉ (1428-1788). Lê Lợi là một danh tướng, nhưng không phải là một người trị nước giỏi. Cũng vì nhu cầu tăng cường quyền lực trung ương, ông và các vua về sau không những đã chấp nhận những nề nếp do nhà Minh để lại (văn học Tống Nho, hệ thống thư lại) mà còn phát triển chúng mạnh thêm.  

    Nho học đi vào hoàn chỉnh với những kì thi đều đặn. Triều Lê đã mở ít nhất 123 kì thi Hội với tổng số hơn 2300 vị tiến sĩ, nghĩa là đều đều cứ ba năm một kì. Tầng lớp nho gia nhờ đó phát triển mạnh mẽ và đã thành công đẩy hẳn tăng sĩ phật giáo vào hậu trường, để bước vào vị trí độc tôn trên mọi địa hạt. Có lượng, nhưng với cái học Tống Nho chật hẹp, nho gia thời Lê đã mất phẩm chất. Mục đích học lúc này là để làm quan, nghĩa là vì danh lợi, chứ không còn vì lí tưởng quân tử (nho giáo) hoặc cứu nhân độ thế (phật giáo). Từ thiên tài Nguyễn Trãi về sau vắng bóng hoàn toàn kiệt nho. Mệnh nước giờ đây chỉ còn nhờ vào đức độ và tài trí của từng nhà vua.

    Đến khi xuất hiện hiền nhân Lê Thánh Tông (1460-1497) thì mọi chuyện đã không còn thay đổi được nữa. Gần 40 năm thời ông tương đối thạnh trị, nhưng cái thịnh trị đó như một ngọn lửa bùng lên trước khi tắt. Công trình để đời của vị vua anh minh này, ngoài việc mở mang thêm bờ cõi, là bộ luật Hồng Đức (1483). Bộ luật này là một phản ảnh của văn hoá việt và tổng hợp thêm những yếu tố phụ hệ tàu và mẫu hệ chàm. Nhờ công trình giá trị này ngày nay ta biết  được rõ hơn nếp sống văn hoá của xã hội xưa.

    Lê Thánh Tông mất. Các vua kế không còn uy lực, đành ngồi nhìn đất nước chia đôi. Chúa Trịnh hùng cứ phương bắc, chúa Nguyễn phương nam. Hơn hai trăm năm (1533-1774) phân tranh nam bắc đã đốt sạch sinh lực và tài nguyên quốc gia.

    Giữa vận cùng của đất nước đó xuất hiện Nguyễn Huệ. Họ Nguyễn cùng với hai anh là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ xuất thân từ giới bình dân làng Tây Sơn đất Quy Nhơn. Thoạt tiên ba anh em dấy quân chống lại chúa Nguyễn trong Nam. Sau khi đẩy chúa Nguyễn lưu lạc sang Xiêm (Thái-lan) và đánh bạt quân Xiêm xâm lược, Nguyễn Huệ đưa quân ra bắc đánh chúa Trịnh, bình định xứ sở. Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Hoa kêu cứu nhà Thanh. Thanh đế sai tướng Tôn Sĩ Nghị mang đại quân mượn cớ giúp vua Lê sang thôn tính Đại Việt. Đại quân nhà Thanh tiến vào đất Việt như thế chẻ tre.

    Nguyễn Huệ tự xưng hoàng đế (Quang Trung 1788-1802), kéo dân quân tiến ra Bắc chống giặc. Với thuật dụng binh thần tốc, dân quân Việt một sớm một chiều đã tiêu diệt toàn bộ đại binh phương Bắc. Tôn Sĩ Nghị vứt cả ấn tín chạy trốn về Tàu.

    Ngoài thiên tài quân sự, Quang Trung là một chính trị gia có tinh thần dân tộc và viễn kiến. Trừ xong giặc ngoài, ông chỉnh đốn lại nền học chính, đưa chữ Nôm vào học trình và văn thư hành chánh: “Nhà vua muốn rằng người Viêt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi vay mượn của Tàu.” [3] Ông cho chỉnh đốn lại Phật Giáo, bằng cách đòi hỏi tăng nhân phải là những người chân tu thật sự và học hành tới nơi tới chốn. Trên đường kéo quân ra Bắc ông cho biết về con đường ngoại chính của mình như sau: “Ta ra đi chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhiệm dùng lời cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.” [4]

    Chưa đầy bốn năm sau, đang tính kế đòi lại phần đất lưỡng Quảng, thì Quang Trung lâm bệnh từ trần.

    4. Nhà Nguyễn: Đêm Xuống trên Việt Nam (1802-1945)

    Quang Trung rực sáng như tia nắng giữa mùa đông. Ngắn ngủi. Để sau đó bầu trời Việt Nam đi vào chiều tối u ám với triều đại nhà Nguyễn.

    Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi phiêu bạt sang Xiêm. Ở đó, một mặt ông giúp Xiêm đánh thắng ngoại xâm Miến-điện và Mã-lai, vì thế được vua Xiêm tận tình giúp đỡ, mặt khác ông không ngừng chiêu quân nuôi chí trở về. Lợi dụng khi Nguyễn Huệ bận rộn với công việc bình định và truy diệt quân Thanh ở Bắc, Nguyễn Ánh về nước với một đoàn quân Miên đánh chiếm Gia Định, nhưng lại bị đánh bật ra Phú Quốc. Chỉ sau khi Quang Trung mất, với chí phục thù đanh thép cùng với một vài giúp đỡ cố vấn tây phương, Nguyễn Ánh đã chiến thắng hậu duệ Tây Sơn và thống nhất giang sơn, mở ra triều đại Nguyễn.

    Vua Gia Long (Nguyễn Ánh), cũng như Lê Thái Tổ, được rèn luyện dày dạn trong chiến tranh và đã chứng tỏ tài cán quân sự. Nhà Nguyễn có công trong việc mở mang bờ cõi tới tận Phú Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa và thống nhất nước nhà. Nhưng nhà Nguyễn thiếu bản lãnh văn hoá. Cũng vì mặc cảm văn hoá nên Gia Long chủ trương Tàu hoá toàn diện đất nước. Từ phong tục, văn học, luật pháp (bộ Hoàng Việt Luật Lệ, gọi tắt là Luật Nhà Nguyễn là một bản sao gần như toàn bộ bộ luật nhà Thanh), việc nội chính cho chí ngoại chính, kiến trúc… ông đều bắt chước Trung Hoa. Thêm vào đó triều đình giúp việc hầu hết là những công thần võ quan đã từng đấu tranh với ông, nên sáng kiến văn hoá lại càng bị hạn chế.

    Vì mặc cảm thất học, Gia Long rất quan tâm việc giáo dục. Ông chỉnh đốn lại nền học chính và thi cử. Đời Nguyễn có tất cả 39 kì thi Hội với 192 tiến sĩ và 266 phó bảng. Con cháu ông như các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều được huấn luyện thành những nhà nho uyên bác. Song, lớn lên trong không khí khô cằn của Tống Nho, các triều đại nhà Nguyễn và quần thần đã dần đưa nước vào bế tắc, để cuối cùng trở lại con đường lệ thuộc ngoại bang.

    Tiếng súng từ tàu chiến Pháp bắn vào Sơn Trà, Đà Nẵng ngày 01.09.1856 báo hiệu cho đêm tối chụp xuống đất nước suốt gần một trăm năm sau đó. Chấm dứt thời kì tự chủ 900 năm.

    ***

    Bình minh văn minh văn hóa Việt bừng dậy trong triều Lí, đạt hoàng kim trong triều Trần, đi vào hoàng hôn ở triều Lê và cuối cùng bước vào đêm tối trong thời Nguyễn. Thịnh suy là lẽ của tạo vật. Tuy nhiên tất cả đều có nguyên do. Nhờ đâu dân Việt có được vinh quang  thời Lí Trần và sau đó đi vào bất hạnh?

    Nguyên do căn bản được cắt nghĩa bởi chính sách văn hoá. Thời Lí Trần ta chứng kiến sự trỗi dậy và chung sống hài hoà giữa ba tôn giáo. Đời sống tri thức thời đó vì thế đượm tính phóng khoáng; xã hội dung chấp cạnh tranh.

    Nho học thời bấy giờ còn vị trí rất khiêm tốn và chưa bị vẩn đục bởi tinh thần chật hẹp và giáo điều cứng nhắc của Tống Nho. Nho gia là những người đồng thời thấm nhuần Lão và Phật học.

    Đấy là thời kì của văn minh phật giáo. Cả nước theo Phật, được lãnh đạo bởi một tầng lớp tăng nhân học thức đa diện và khai phóng. Tăng sĩ vừa là nhà nho và đạo sĩ. Phật Giáo thời này thuộc phái Đại Thừa (Mayâhâma) với lí tưởng sống của những Bồ-tát.

    Bồ-tát sống cho tha nhân. Họ đặt sự giải thoát tha nhân trước mưu cầu cầu giải thoát cá nhân mình. Hành động của Bồ-tát xuất phát từ sự vô cầu tư lợi và từ lòng từ bi chỉ mong cho người được hạnh phúc. Bồ-tát có thể nói là những vị thánh đã đạt cửa Niết-bàn, nhưng đã từ chối bước vào một mình, mà trở lại để kéo chúng sinh cùng vào [5]. Vì thế tăng sĩ thời Lí Trần sống giữa quần chúng, dấn thân vào sinh hoạt nhân sinh. Tinh thần “cứu nhân độ thế” của Phật cộng với lí tưởng “quân tử” của Nho cùng tinh thần “vô cầu” của Đạo đã giúp tầng lớp tăng sĩ thời đó trở thành những nhà lãnh đạo khai phóng, bao dung và dấn thân, những đức tính đã đưa dân tộc tới đỉnh cao văn minh.

    Về sau văn minh Việt suy nhược là vì nho sĩ trở thành độc tôn. Khi không còn những cạnh tranh tri thức, xã hội và tinh thần nữa, hẳn cũng chẳng còn khai phóng, bao dung và dấn thân. Độc tôn nho gia và tinh thần Tống Nho (học để làm quan mưu cầu tư lợi và địa vị) đã khiến tầng lớp lãnh đạo Việt Nam hết nhựa sống và đưa đất nước vào bế tắc.

    Một số cổ vật ừ thời Lý đến đầu thế kỷ 20 được trưng bày trong cuộc triển lãm do Bảo tàng Lịch sử TP HCM và một số nhà sưu tập tư nhân sưu tầm, tháng 12/2023. Photo: Báo VnExpress

    Thật ra, thảm kịch việt nam từ cuối đời Trần và trong thời Nguyễn chỉ là một bản sao muộn màng của thảm kịch Trung Hoa. Đỉnh cao của văn minh văn hóa trung hoa diễn ra dưới thời nhà Đường. Nhưng cũng chính nhà Đường đã có một quyết định bi đát, khi đột nhiên vào năm 845, do áp lực của đám nho gia đứng đầu là Hàn Dũ, ra lệnh “bài trừ ngoại đạo”: đưa Khổng Giáo lên địa vị độc tôn (Quốc Giáo), dẹp Phật Giáo, triệt phá đền thờ mọi tôn giáo khác, đuổi người ngoại quốc, hủy hết thuyển bè để dân không còn phương tiện xuất ngoại, 25.000 ngôi chùa bị san bằng, 250.000 tăng sĩ bị đuổi đi khẩn hoang sản xuất nơi các “kinh tế mới” [6]. Nhờ biến cố này, Tống Nho sau đó mới có đất sống và từ đó nhấn đất nước này xuống vũng lầy bi thảm mãi cho tới ngày nay.

    ***

    (Phần xem thêmDi tích các bãi cọc ở sông Bạch Đằng, do dân quân của tướng Trần Hưng Đạo đóng xuống sông năm 1288, để chống lại quân Tàu)

    Trái: Dấu tích của một cây cọc tại bãi cọc Yên Giang. Phải: Bãi cọc ở Yên Giang. Bãi cọc Yên Giang nằm ở cửa sông Chanh có hình chữ nhật dài khoảng 120 m, chiều rộng khoảng 20 m. Sau lần khai quật đầu tiên vào năm 1958 và nhiều lần sau đó vào các năm 1969, 1976, 1984, 1988 … cho thấy cọc ở đây chủ yếu là gỗ lim, táu dài 2,6 – 2,8 m, đường kính 20 – 30 cm. Phần cọc được đẽo nhọn dài 0,5 – 1 m để cắm thẳng xuống sông với khoảng cách trung bình 1m.

    Trái: Bãi cọc Đồng Vạn Muối, khai quật 2009. Phải: Bãi cọc ở Đồng Má Ngựa, khai quật năm 2010

    Hai cây lim cổ thụ trên 700 tuổi là dẫn tích của một cánh rừng cổ ở khu vực gần sông Bạch Đằng (ở Yên Giang), nơi cung cấp cọc gỗ cho những trận đánh năm xưa.

    (còn nữa)

    Phạm Hồng Lam

    ……………….

    Chú thích:

    [1] Khuyết danh, Đại Việt Sử Lược. [1377-1388]. Người dịch: Nguyễn Gia Tường. Nxb. Đại Học Tổng Hợp TP HCM, 1993. Bản điện tử, trang 23: “Nghe tin Hoằng Tháo tiến quân vào nơi cửa biển, [Ngô Quyền] bèn cho cắm cọc lớn đầu có bịt sắt. Đến lúc nước thủy triều dâng lên mới sai quân dùng thuyền nhỏ ra khiêu chiến, mà giả vờ thua. Hoằng Tháo đuổi theo. Lúc ấy nước thủy triều xuống, cọc liền bày ra. Hoằng Tháo chống trả túi bụi, rồi thì nước chảy rất mạnh vào hết các thuyền đang vướng mắc nơi cọc. Ngô Quyền đánh phá dữ dội. Quân Nam (Hán) chết chìm quá nửa và Hằng Tháo bị giết”. Chiến lược này về sau cũng được tướng Trần Hưng Đạo áp dụng để đánh quân tàu tại sông Bạch Đằng (1288). Xem một số hình ảnh nơi trang cuối bài.

    [2] Xem Phạm Cao Dương, Nhà Minh cướp sách của ta đem về Tàu. https//nghiencuulichsu.com/nha-minh-cuop-sach-cua-ta-dem-ve-tau.

    [3] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược. TTHH 1971: 142.

    [4] Trần Trọng Kim, như trên. Trang 132.

    [5] H.W. Schumann, Buddhismus. Ein Leitfaden durch seine Lehre uns Schulen. Darmstadt, 1973. Trang 83tt.

    [6] Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan, Cành Nam 1990, tr. 32t.

    Phạm Hồng Lam


    Không có nhận xét nào