Header Ads

  • Breaking News

    Lê Văn Duyệt

    Phần 2

    Vinhhuy Le/ Sưu tầm và phổ biến

    08/10/2026

    LÊ VĂN DUYỆT - P.2 (Cao Hải Để soạn)

    ĐOẠN THỨ XIV: CĂN CƯỚC LÊ-VĂN-KHÔI, ĐỒ-HOÀNH VÀ TỔNG-TRẤM, LÀ TÔI THỦ HẠ QUAN TẢ-QUÂN LÊ-CÔNG.

    Trước kia đã nói rằng: Lúc binh nhà Nguyễn đánh thắng, lấy Phú-xuân (Huế) thì quan Tả-quân Lê-công cầm binh đánh thẳng ra Bắc, đến đâu người đều thủ thắng.

    Mà người lại có lòng nhơn, vì mỗi khi bắt đặng binh tướng giặc mà muốn đầu người, thì người rộng lòng ân-xá ngay. Trong số các tướng giặc đầu người đó, có mấy người nầy đặng người yêu dùng hơn hết: Lê-văn-Khôi, Đồ-Hoành và Tổng-Trấm, đều là tay võ nghệ cao cường hết thảy, chớ chẳng phải là bọn phỉ-tử như lời thêu dệt của thế thường. Bởi yêu dùng ba người ấy, nên người cho theo hầu cận, lại ban cho làm chức Chánh Vệ-úy và phó Vệ-úy. Người phái ba người bộ hạ khai phá rừng Tây-ninh và Quảng-hòa, lấy cây về cất dinh trại cho binh lính và công thự cho các quan trong thành (vì bị giặc giã đốt phá), và đóng thêm chiến thuyền ngăn ngừa binh Xiêm-la xâm lăng, vì người vẫn biết quân Xiêm-la thường dòm hành xứ Nam-kỳ, miễn có dịp thì chúng nó chẳng dung.

    ĐOẠN THỨ XV: THÁi-ĐỘ CỦA ĐỨC VUA VÀ BẠCH-XUÂN-NGUYÊN

    Các điều tra xét có quan-hệ với việc chánh-trị của Tả-quân Lê-công, Bạch-xuân-Nguyên lấy hai điều nầy làm bằng-cớ mà buộc tội người: về vụ đốn phá cây rừng và khoản tiền của Tả-quân chi phí.

    Theo lời đáp của Lê-văn-Khôỉ, cây đốn trên rừng dùng về các việc tạo-tác đã kể trước kia, thì Bạch-xuân-Nguyên nói: “Nếu ông Lê-văn-Duyệt có ý chỉnh-tu các công-thự, thì tỉnh Hà-tiên sớm đã cấu tạo chắc chắn huờn thành rồi”. Có điều này càng xuôi cho sàm-thần Bạch-xuân-Nguyên mượn đó làm bằng cớ mà vu tội cho Tả-quân, là mỗi khoản chi xuất đều có gạnh câu chữ « tả-quân chi dụng ». Bởi Lê-văn-Khôi và các bạn đồng-liêu không biết rõ việc mật nhiệm của Tả-quân, nên khó mà cắt nghĩa cho rành khoản đó. Cả thảy các quan thuộc-hạ của Tả-quân và người, đều bị buộc tội hà-lạm. Trong cơn tra-xét, Bạch-xuân-Nguyên tỏ dấu bất kính Tả-quân, cứ kêu trống người là « Lê-văn-Duyệt ».

    Dầu các đồng-liêu đều không lời đôi-chối, song Lê-văn-Khôi bào chữa cho Tả-quân cách khẳng-khái, bởi bất-bình vì chủ đã thác mà phải mang nhơ, nên một điều cứ đối nại luôn luôn. Vậy nên Bố-chánh là Bạch-xuân-Nguyên dạy hạ ngục cả thảy (Đáng trách thay cho hình-phạt buổi ấy, người đã thác rồi, làm khách cõi ngoài, mà trào-đình lại còn bày điều tàn-bạo, phạm đến danh dự tôi trung-lương. Phụ bạc thay cho nhà vua buổi đó! Đáng ghét thay cho trào-thần buổi đó!)

    ĐOẠN THỨ XVI: ĐỒNG MƯU DẤY LOẠN GIẾT CHẾT KHÂM-SAI VÀ TỔNG-ĐỐC NGUYỄN-NGỌC-QUẾ

    Khi giam bọn Lê-văn-Khôi vào ngục-thất rồi, chẳng bao lâu bọn ấy lại nhập lõa với hai mươi bảy tên tù phạm “Hồi lương” lập kế, toan bề dấy loạn.

    Trong đêm 18 tháng năm niên hiệu Minh-Mạng thứ 14. Bọn ấy bèn làm loạn, tận-sát quân giữ ngục, giết Bạch-xuân-Nguyên mà tế quan Tả-quân. Quân Hồi lương vì lòng hiềm thù tích oán, nên giết quan Tổng-đốc Nguyễn-ngọc-Quế và con.

    Báo thù đã xong, Lê-văn-Khôi bèn nhóm Đồ-Hoành, Tổng-Trấm và các tướng binh cộng sự mà bàn tính vói nhau rằng: “Nay chúng ta trót vì thù chủ mà giết Bạch-xuân-Nguyên và Nguyễn-ngọc-Quế; thì chắc sao nhà vua hay đặng cũng bắt tội chúng ta mà đem binh gia phạt. Tuy nhà vua không nghĩ ơn dày công trọng của Tả-quân, lấy oán đổi công, nhưng thế lực mạnh mẽ, ta khó mà đương cự. Vậy chúng ta mau mau giải tán, nhà ai nấy về, đặng tránh sự đồ-sát hiểm nghèo ». Tính rồi truyền lịnh sắm sửa mọi điều, lên lưng voi băng đường bộ đi ngang xứ Mọi, gần giải núi Hoành-sơn mà về xứ. Dắt nhau đi đã khỏi giới-hạn tỉnh Biên-hòa, thì bọn Hồi-lương và cả thảy dân sự phe của Tả-quân đem nhau chạy theo, xin đừng bỏ họ mà đi. Vì vậy mà Lê-văn-Khôi với các bạn đồng-sự phải trở lại lấy thành và treo cờ khởi nghĩa, qui tụ binh lương, phòng khi binh trào có đến đánh mà cự đương cho dễ. Ấy là năm 1833. Các tỉnh khác không khứng theo giặc nên không dự đến, giữ phần trung-lập. 

    ĐOẠN THỨ XVII: VÂY THÀNH SAIGON.

    Hay tin Lê-văn-Khôi khởi loạn, giết Bạch-xuân-Nguyên và Nguyễn-ngọc-Quế, thì đức Minh-Mạng liền hạ chiếu-chỉ sai một đạo binh bộ và một đạo binh thủy vào đánh. Khi đạo binh bộ đi trước gần tới, thì Lê-văn-Khôi và đồng bạn rút vào cứ thủ thành Saigon.

    Binh trào liền vây thành. Binh ngụy nhờ có lương thảo của Tả-quân tích trữ sẵn phòng ngừa giặc Xiêm-la và thành-trì bền chặt, nên cầm cự trót ba năm trời.

    Đến đây mới thấy lòng trung-quân ái-quốc của Tả-quân Lê-công, giờ giờ đều lấy nước nhà làm trọng, lo đánh Nam dẹp Bắc, đắp thành đào hào, tụ thảo đồn lương, thao-luyện binh lính vân vân... ngỡ là để gìn giữ cõi bờ, chớ không dè làm sẵn món đồ bén cho bọn khởi ngụy dùng mà chống trả với binh nhà vua trót ba năm trời; làm cho đổ máu dân lành, hao mòn của nước; làm cho nhà vua nhơn đó mà trả thù tư, thiệt đáng tiếc thay!

    Giả sử lúc đó nhà vua đừng coi sự tư hiềm là trọng, đừng làm việc tế vi, thì đâu có bọn Lê-văn-Khôi dấy loạn. Bọn Lê-văn-Khôi không làm loạn, thì thành Saigon đâu có bị điêu tàn, ngày sau không còn chắc chắn như trước, nên sau bị binh Pháp lấy càng dễ lắm. Phần thì trào-đình Huế lúc ấy còn giữ theo chủ nghĩa chuyên-chế, không chịu rộng dung; thường lấy luật tàn nhẫn mà đối với tôi dân trong nước, làm cho thiên-hạ đều bất bình, thế nên khi binh Pháp đến chiếm xứ Nam-kỳ, thì những người oán tức cường quyền bạo chánh của trào Huế đều ra đầu cả, lại làm quân dắt đường cho binh Pháp là khác.

    ĐOẠN THỨ XVIII: XIÊM-LA SAI BINH CỨU LÊ-VĂN-KHÔI, BỘ-CHIẾN, THỦY-CHIẾN ĐỀU BẠI

    Lúc binh trào gia phạt, Lê-văn-Khôi có sai sứ đệ thơ qua Vọng-Các thành, kinh đô của Xiêm-la-quốc mà cầu cứu. Vua Xiêm bấy lâu bị Lê-công trấn thủ Nam-kỳ, bảo-hộ Cao-man làm cho mất cả quyền thế, may có dịp tiện đó bèn sai hai đạo binh sang cứu Lê-văn-Khôi, một đạo đi đường bộ, đạo kia đi đường thủy.

    Nhưng đạo binh bộ đi vừa đến, thì thành Saigon đã bị hạ rồi, bèn rút về không có giao chiến. Còn đạo binh thủy đi đến Vàm-Nao, mới hay tin binh bộ đã rút rồi. Hay tin ấy lòng quân rúng động, tấn thối lưỡng nan, không dám giao chiến với đạo binh của Bình-khấu tướng-quân ngoài trào sai vào ngăn ngừa binh giặc. Tham-mưu là Trương-minh-Giảng, hay tin binh thủy của Xiêm đang cơn lưỡng lự, lại binh lính ô-hạp không tập luyện, bèn dạy xáp trận. 

    Đánh trận ấy, binh Xiêm hao tổn rất nhiều, chiến-thuyền đều bị hủy phá. Bao nhiêu binh Xiêm còn sống lại, kéo nhau trốn về đường bộ, dẫn người Annam theo rất đông. Bởi lúc đó đức Minh-Mạng còn lo dẹp an loạn lạc nổi khắp các nơi, nên bỏ qua vụ người Xiêm xen vào việc nước mình và vụ bắt dẫn người Annam về nước họ (3).

    ĐOẠN THỨ XIX: CÔNG-PHÁ THÀNH SA1GON.

    Trong cơn vây thành, sở pháo-thủ của trào-đình sai vào, bắn xả vào thành, mỗi ngày tiếng súng rền trời không dứt, mà không làm chi cho binh trong thành làm loạn đặng. Chỉ có các nhà công-thự cất giữa thành bị hư hao mà thôi. Vì mỗi khi phá thành đều có giờ khắc, mà binh vây thành lại có nhơn hơn vua Minh-Mạng, báo cho binh trong thành biết trước mà trốn bên vách thành, đạn bắn vào không trúng đặng. Nhiều khi binh vây thành và binh bị vây, kẻ đứng ngoài hào, người ngồi trong lũy, trò chuyện nhau như bạn cố-giao, hai bên hỏi nhau mạnh giỏi thể nào.

    ĐOẠN THỨ XX: DẸP AN GIẶC LÊ-VĂN-KHÔI

    Mấy ngàn binh trong thành, vì sợ thành bị phá mà bị sát-hại, nên giữ thành trót ba năm trời. Khi thành hạ rồi, người người đều giống hình ma quỉ vì bị vây lâu, đói khát cực-khổ, mà cũng tránh chẳng khỏi tử-hình. Đức Minh-Mạng lúc ấy chẳng nhẫn tay cho ai cả, nên xuống lịnh đồ-sát hết thảy nam phụ lão ấu, không chừa một đứa con đỏ.

    Thiệt là: Thây nằm chật đất, máu chảy thành sông.

    Nếu lúc ấy mà cả Nam-kỳ nầy đều bất-bình về sự bạc-đãi Lê-công, thì đức Minh-Mạng cũng dạy giết sạch cả dân Nam-kỳ, không còn một mạng. Giết sạch thành Saigon rồi, đem thây chôn chung vào một huyệt tại làng Trí-hòa, gọi là « Mã-ngụy », dựng một tấm bia đá, có khắc chữ rằng: « Ngụy tặc nhứt võng tịnh tru » (nghĩa là: Bọn làm giặc bị bắt và giết luôn một lượt).

    Duy có Lê-văn-Khôi đã chết trước ngày thành bị lấy. Đồ Hoành, Tổng-Trấm và ít vị thầy cả đều bị giết, con của quan Trung-quân Nguyễn-văn-Thành là Nguyễn-văn-Hàm làm chức Hiệp-quân, Nguyễn-văn-Tâm, Nguyễn-văn-Nhâm, Nguyễn-văn-Đôn, Nguyễn-văn-Huỳnh đều bị giải về Huế, và xử cách « lăng-trì » (phần thây) trước mắt vua Minh-Mạng dự xem, ngài lấy làm ngon mắt.

    Còn những kẻ tội nhẹ đều cho « voi dày » (Cách nầy làm như vầy: bắt người tội để vào vòi voi cho voi quấn, rồi lấy kim và dùi nóng chích vào mình voi cho voi giận nhồi người tội lên cao rồi lấy vòi bắt lấy mà ném xuống đất cho chết. Nguyên mấy người con của Trung-quân Nguyễn-văn-Thành trước bị triều-đình bắt tội, nhờ Tả-quân Lê-công tùy-hộ, sống thừa đặng ít lâu, sau cũng phải mắc tội đồng lõa mà phải tử-hình. Thiệt số mạng đã định khó mà trốn đặng.

    ĐOẠN THỨ XXI: LÊ-VĂN-DUYỆT VÀ NGUYỄN-VĂN-THÀNH BẤT HÒA.

    Đây cũng nên nhơn dịp mà nhắc sơ lại, sự giao thiệp của hai viên chiến-tướng: Trung-quân Nguyễn-văn-Thành và Tả-quân Lê-văn-Duyệt. Nguyên hai ông là bạn đồng-liêu, cùng nhau theo giúp chúa Nguyễn-Ánh trong cơn thất-quốc. 

    Ngày kia, nhằm mùa lạnh, sương mai rơi rỉ-rả; gió bấc thổi rao-rao lạnh tới xương. Tả-quân Lê-công đương ngồi trên lưng voi ngó qua bên nghịch suy tính việc bài binh bố trận. Thì ông Nguyễn-văn-Thành, cũng ngồi trên lưng voi, bước lại gần, mời người một ly rượu.

    Nguyên tánh ông Lê-văn-Duyệt thì tiết-độ lắm nên từ hẳng, không uống. Ông kia cố ý mời ép và nói: « Hãy uống một ly cho hừng chí ».

    Nghe vậy ông Lè-văn-Duyệt đáp rằng: « Nếu ai nhát gan thì uống rượu cho hừng chí, chứ gan tôi vẫn ấm luôn ».

    Lời nói chơi ấy làm mất lòng ông Nguyễn-văn-Thành nhiều lắm, nên từ đây hai ông không chuyện vãn với nhau nữa. Vì vậy mà hai ông cứ nong nã lập công, đánh giặc phải ráng cho thắng trận, vì e bại trận mà bị cười chê rằng nhát. Sau ông Ngnyễn-văn-Thành bị vua Minh-Mạng làm nhục mà thác, và xử-tử con trưởng nam người là Nguyễn-văn-Thuyên, ông Lê-văn-Duyệt quên thù hiềm cũ, đem cả mấy người con nhỏ của ông Nguyễn-văn-Thành về Nam-kỳ mà nuôi. Dầu người có làm phải, mong cứu các con ông Nguyễn-văn-Thành, mà rốt lại cũng không cứu đặng.

    ĐOẠN THỨ XXII: BẮT TỘI TẢ-QUÂN Lê-VĂN-DUYỆT.

    Đức Minh-Mạng đã thủ-xướng nên cuộc dấy loạn, làm đổ máu sanh linh cũng chưa phỉ dạ. Nên còn tính bắt tội người đã qua đời; ấy là ông Tả-quân Lê-văn-Duyệt.

    Các khoản làm tội người cả thảy là bảy điều, mà trọng nhứt là:

    1. Tư hòa với nước Miến-điện.

    2. Cho tàu Ăng-lê đỗ tại mé Bình-Thuận.

    Nguyên năm Minh-Mạng thứ hai (1821), người sai Nguyễn-văn-Đô qua Sanh-ga-bua mua thuốc đạn, súng ống. Lúc về, thuyền bị bão lạc vào mé biển xứ Miến-Điện. Nhằm lúc nước ấy đang tranh chiến với nước láng-giềng là nước Xiêm-la. Muốn cầu cứu nơi nước Annam, nên vua Miến-điện tiếp đãi quan viên Annam dưới thuyền bị bão rẩt long trọng, ân cần.

    Lúc thuyền về, thì có sai một đạo sứ theo sang nước Nam, đặng kết niềm giao hảo. Tả-quân không lúc nào tin lòng người Xiêm, nên rất sốt sắng về vụ giao lân, ý người muốn làm vậy đặng chia bớt thế lực nước Xiêm-la và buộc nước phản phúc ấy giữ điều hòa-hảo với nước Annam. Nên người vội vàng làm sớ dưng cho vua ta rõ.

    Song lúc ấy đức Mỉnh-Mạng quáng mắt vì sự tư hiềm, nên phàm việc chi có Tả-qùân dự vào ngài đều cho là quấy cả. Bèn hạ chỉ đuổi sứ Miến-điện, không khứng giao lân. Đến năm 1826 (Minh-Mạng thứ tư), một chiếc tàu Hồng-Mao bị bão tấp vào bãi Bình-Thuận. Đức vua chỉ hạ chiếu coi chừng người bị tai nạn mà thôi. Song Tả-quân thì xin đem hết vào Nam-kỳ, đặng người liệu định. Vì cớ đó mà trong án định rằng người có ý khoe mình có quyền hơn nhà vua. Có kẻ tưởng rằng Tả-quân làm như vậy là có ý muốn cho mấy người Hồng-mao bị tai nạn đó tránh khỏi đói lạnh. Mà các quan trào lúc đó theo gương chúa mình, lấy làm khó chịu lắm. Tiếc vì không hiểu, giũ mấy điều buộc tội người. Duy hai điều chót là cố ý làm phản, dung dưỡng Lê-văn-Khôi thành vi cánh kháng cự trào-đình; hà lạm của công và phá rừng lấy cây dùng việc tư, không có lịnh dức vua cho.

    ĐOẠN THỨ XXIII: HÌNH PHẠT ÔNG LÊ-VĂN-DUYỆT SAU KHI NGƯỜI THÁC.

    Vì cớ đã kể trên đó, mà vua phạt ông Lê-văn-Duyệt (không cho tước phẩm gì nữa):

    1. Tội tử-hình xử gíảo (thắt cổ).

    Nhưng khó mà xử giảo một người đã thác rồi. Mà đức Minh-Mạng chẳng chịu bỏ qua. Ngài dạy trồng trước mộ Tả-quân một cây trụ lớn, khắc hàng chữ nầy:

    « Quyền yêm Lê-văn-Duyệt phục pháp xử » (Đây là chỗ của tên thái-giám quyền-thế Lê-văn-Duyệt chịu hình phạt).

    2. Nấm mộ người phải tẩy bằng mặt đất, và quan-tài người bị xử 100 roi (trượng) và xiềng lại.

    3. Tru di tam tộc (nghĩa là ba họ: bà con bèn cha, bên mẹ và bên vợ), vì vậy mà phò-mã Lê-văn-Yên và Lê-văn-Vệ (con ông Lê-văn-Phong, cháu của Tả-quân) đều bị tử-hình. Các bà chúa đều đặng miễn, vì là thuộc về dòng tôn-thất.

    Nhờ Tả-quân không phải như người thường, người thuộc về phe « Bộ », nên Tả-quân phu-nhơn khỏi tội tử-hình, vì trào-đình nghị tha. Dầu đức Minh-Mạng có tha, song chẳng bao lâu phu-nhơn cũng rầu buồn, về nhà mẹ là Bà-đội ở Chợ-lớn, ở trong am của mẹ bà cất ở lối nhà thương Bổn-quốc bây giờ, bà lâm bịnh mà chết. Thủ-hạ Tả-quân lúc trước lén đem thây bà về chôn kế mộ người, cũng xiềng một sợi xiềng như người vậy. Muốn giấu lỗi mình, đức Minh-Mạng bèn xuống chiếu, hỏi ý các quan tính thể nào. Thì cả thảy đều dâng sớ tâu rằng: « Y theo ý chỉ trào-đình ». Trong đó chỉ có một vị quan dâng sớ tâu cách khẳng khái rằng: « Xử như vậy bất công. Tên chánh phạm chưa chịu hình phạt! » Thiệt đáng khen thay cho lời sớ cang-trực dó. Vi một người tái-tạo nước Nam mà lúc thác lại bị bạc đãi như vậy.

    Tiếc vì đời nay không ai biết tên vị quan ngay thẳng đó.

    ĐOẠN THỨ XXIV: TẾ-CẮP VỢ GÓA CON CÔI CỦA BINH LÍNH TỬ-TRẬN CƠN GIẶC-GIÃ

    Trong lúc xứ chưa mấy mở mang, sự tương-tế chỉ làm theo sức mỗi người mà thôi. Tả-quân thấy các gia quyến những binh lính chết vì việc nước, vì lòng trung-nghĩa với quê-hương, nên có lập nhiều cuộc bố thí chẩn tế những kẻ nghèo khổ ấy.

    Người lập ra trường Anh-hài, trường Hậu-anh-hùng và trường Giáo-dưỡng để tế cấp và dạy dỗ các mẹ góa con côi của tướng-sĩ chết về việc nước. Người lựa theo sức trẻ con thông minh mà tuyển vào cho các trường dạy dỗ. Cách ấy cũng như bên Tây dạy trẻ con các quan võ vậy (trường Thượng-võ); còn đứa nào ngu muội thì cho vào trường Giáo-dưỡng đặng tập rèn nghề-nghiệp (như trường Bá-nghệ).

    ĐOẠN THỨ XXV: SỰ TÍCH TƯỚNG-TINH TẢ-QUÂN LÀ BẠCH-HỔ (Cọp-bạch)

    Hết thảy các trẻ nầy đều nuôi dạy trong thành, Tả-quân thường săn-sóc tử-tế lắm. Vì việc sau đây mới có sự tích truyền rằng tướng tinh người là « Cọp-bạch »:

    Nguyên ngày kia các trẻ dang chơi giỡn tự-nhiên, thình-lình hết thảy đều ré dậy lên rằng: « Ông cọp, ông cọp! »

    Hỏi thì chúng nó nói thấy một con cọp nhảy nhót trong dinh của Tả-quân. Liền có tiếng trống nổi dậy cả thành. Quan quân binh lính đều nai-nịch kéo tới vây chặt dinh người, đáo sát khắp nơi không thấy cọp hùm chi cả. Tiếng tăm đồn-đãi khắp thành, ai ai đều bàn, đó là tướng tinh của Tả-quàn xuất hiện; lại còn thêu dệt nhiều điều, khó mà tin cho đặng.

    ĐOẠN THỨ XXVI: XÁ TỘI TẢ-QUÂN LÊ-CÔNG.

    Đến lúc đức Thiệu-Trị lên ngôi cửu-ngũ, là năm Tân-sửu (1841), ngài liền lo sửa lỗi của tiên-đế ngày xưa, xá tội cho Tả-quân Lê-công và phục y theo cựu chức.

    Từ đây cây trụ lớn nhuốc nhơ trồng nơi mộ người bấy lâu mới nhổ đi, mộ người sửa sang lại như ta thấy ngày nay tại làng Bình-hòa, tổng Bình-trị-thượng, tỉnh Gia-định đó. Nhưng đức vua lại quên liệt danh ngài vào công-thần-miễu như các công thần khác.

    Mà dân Nam-kỳ, có lòng háo nghĩa, làm cho rạng tiết « Trung-dõng Nghĩa-khí » người, tôn người vào hàng liệt thánh, vì người là một vị quan của Nam-kỳ. Đến lúc đó hương chức làng Long-hưng (Rạch-gầm) mới chịu đem dòng giống người ra, là cháu của ông Lê-văn-Phong các ông giấu nhẹm đã bấy lâu, để lo việc hương-hỏa cho người. Đến năm 1875, người đặng cải phong làm: « Bình-tây Đại-tướng-quân, Quận-công ».

    ĐOẠN THỨ XXVII: VÕ-CÔNG TẢ-QUÂN ĐỐI CÁC NƯỚC LÁNG-GIỀNG

    Chẳng những Tả-quân nhứt sanh chỉ chuyên lo một việc nội trị, mà cũng hằng giữ sự ngoại-an. Như thể bảo hộ Cao-man, đánh Xiêm-la, vân vân, và dẹp giặc Thạch-bích (Đá-vách) nữa.

    Hầu hết nửa thế kỷ, người Annam mắc tranh giành nhau ngôi vua trong xứ, không cố đến các nước chư-hầu và phụ-dung, nên các nước ấy thừa dịp rảnh rang mà lo sự độc-lập.

    Trong các nước, chỉ có giống dân Thạch-bích là cừ khôi hơn hết. Giống dân nầy ở theo dãy núi Hoành-sơn, rải theo ranh tỉnh Quảng-ngãi. Chẳng những xưng độc lập, mà ghe phen còn xâm lấn bờ cõi ta nữa. Thế nên trào-đình phái Tả-quân Lê-công đem binh chinh phạt. Bởi lúc ấy nước Nam bị chinh chiến lâu năm, binh yếu lương ít, khó mà dẹp yên đặng quân giặc. Lắm lúc binh ta vừa xây lưng thì binh nó lại kéo đến, Tả-quân phải ra binh năm phen mới bình-phục đặng giặc ấy. Sau đức vua muốn tỏ cho dân ấy thấy võ-bị của ta mạnh là dường nào, nên xuống chiếu dạy mỗi năm đều điều binh cho nó thấy. Nhưng làm vậy cũng chẳng ích chi lắm. Vì lúc đó binh lính Annam, lớp muốn báo thù đồng-bào mình bị quân Đá-vách sát hại, lớp thì giựt của bắt loài vật, giết đờn bà con nít chẳng dung tay. Nên dầu quân Đá-vách tuy yếu mà quá nhịn rồi, tức giận phải dậy giặc hoài, lâu lâu thì làm loạn một lần. Tới sau, nhờ có ông Phan-thanh-Giản khéo cách dỗ dề, giống dân ấy mới yên.

    Ông Lê-văn-Duỵệt, hai phen làm Tổng-trấn xứ Nam-kỳ: lần thứ nhứt là năm 1813 Gia-long năm thứ 12; lần kế là năm 1820 - năm Minh-Mạng thứ nhứt - cho tới lúc người lâm chung là năm 1832 có nhiều điều quốc-chánh xảy ra đáng bia truyền.

    ĐOẠN THỨ XXVIII: BẢO-HỘ CAO-MAN.

    Năm 1813, là năm người mới lãnh chức Tổng-trấn, người dẫn 13.000 binh, tôn Nặc-ông-Thu làm vua Cao-man-quốc. Người có cho vua ấy 10.000 đấu gạo trắng và một số tiền rất lớn đặng lo sắp đặt việc cai-trị trong nước buổi đầu.

    Nguyên vua Cao-man bị người em là Nặc-ông-Thái mượn binh Xiêm-la đánh đuổi mà giành ngôi báu, trốn sang Nam-kỳ, nhờ sứcTả-quân cứu viện. Nhờ oai binh ròng tướng mạnh của Tả-quân, mà nước Xiêm-la phải giả lơ không sanh sự với nước Cao-Man.

    Muốn tỏ lòng cảm nghĩa và muốn cho nước Annam bảo hộ nước Cao-man vĩnh viễn khỏi tay quân Xiêm khuấy nhiễu, thì vua Cao-man cắt nhượng cho nước Annam hai tỉnh.

    ĐOẠN THỨ XXIX: TÍCH ÔNG TẢ-QUÂN ĂN SỎI.

    Trong lúc Tả-quân trấn tại xứ Cao-man có xảy ra một việc đáng tức cười như vầy: ngày kia người ăn đường phèn uống nước trà, có người Cao-man (thường ăn đường thốt-nốt, không biết đường phèn) thấy người nhai dòn rụm, hỏi nhỏ thằng hầu phòng người rằng: “Quan lớn ăn cái chi vậy?” Nhằm thằng phòng có tánh hay diễu, đáp rằng: “Người ăn sỏi! Chú không biết sao? Người chỉ ăn sỏi mà thế cơm!”

    Người Cao-man thiệt tình, bèn hỏi tiếp rằng: “Họa có trời Phật mới ăn như vậy mà sống đặng”. Thằng kia đáp: “Chú nói trúng đó, quan lớn tôi là người phi-thường!”

    Tuy là lời nói chơi mà rất có ích, vì người Cao-man có tánh tin Trời Phật, truyền ngôn nhau đều kêu Tả-quân là « Ông tướng trời », hễ nghe danh người thảy đều khép nép.

    Mà danh người cũng đồn qua cho tới thành Vọng-Các. Mỗi khi vua Xiêm-la tiếp rước sứ ta, thì trước hết hỏi thăm: “Quan Tả-quân còn mạnh giỏi chăng?”

    ĐOẠN THỨ XXX: DÂN CAO-MAN DẤY LOẠN

    Quan Tả-quân lãnh Tổng-trấn Nam-kỳ lần sau, là vì một tên phỉ-tử Cao-man tên Tân-Mê làm loạn. Tên ấy nhờ tà-thuật mà cám dỗ dân thổ theo rất đông. Lúc ấy Nam-kỳ hết hai phần ba là người Cao-man, nên đâu đó hè nhau khởi loạn gần khắp xứ. Bọn thổ ấy xưng rằng có phép gồng, chém không đứt, đâm không lủng, tay cầm chà-gạt, miệng hô cáp-duồng (giết người Annam), các quan tỉnh không dẹp đặng, thế giặc càng ngày càng mạnh.

    Hay tin ấy, quan Tả-quân bèn lìa Huế mà vô Nam-kỳ. Người tính chẳng cần dẹp bọn kia, trước phải đánh tướng làm đầu; nên bươn-bả tìm cho đặng Tâm-Mê mà đánh. Gặp nó tại Cà-Hôn (Mỹ-tho) và phe đảng rất đông.

    Hao binh tổn tướng rất nhiều, người mới bắt đặng tên đầu đảng mà chém đi, còn bao nhiêu người đều tha hết. Tân-Mê bị giết thì hết giặc.

    _________

    (1) Các thái-giám theo hầu trong cung-nội chia làm ba bực, do theo bộ đồ kín của mỗi người: 1- Yêm-hoạn, chỗ dương-vật chỉ có một cái lỗ nhỏ, có một miếng da đậy lại, miếng da ấy lúc đi tiểu mới mở ra, không thì đậy lại. 2- Tàm (nghĩa là Tằm) vì dương-vật giống như con tằm. Ông Lê-văn-Duyệt sắp nhằm bực thứ nhì. 3- Cung-hoạn, đều là người thường thiến mất bộ dương-vật đi.

    (2) Cha vay con trả, câu nầy không ăn thua chi vào vụ tuyển lập Đông-cung cả, có lẽ lúc ấy ngài gần chầu trời, nên tâm thần biến loạn mà phân lầm chăng?

    (3) Sau đến lúc người Lang-sa sang chiếm Nam-kỳ, trào Huế có mật sai ông Huỳnh-mẫn-Đạt nguyên Tuần-phủ Hà-tiên, sang Xiêm-la cầu cứu và xin đòi người Annam bị bắt lúc trước. Nước Xiêm đã không khứng giúp, mà người Annam bị bắt lúc trước đã có bề thế nhà cửa ở bển, nên không muốn về. Đi sứ về, ông Huỳnh-mẫn-Đạt bị gíáng-cấp và bổ làm Bố-chánh tỉnh Mỹ-tho. Sau thành Mỹ-tho bị binh Pháp và Et-ba-nhôn lấy, ông và nhiều quan khác bị đày qua tỉnh Trấn-tây, vì là người của Tả-quân còn sót lại (Tả-quân di hạ).


    Không có nhận xét nào