30/9/2026
Georgi Kantchev và Summer Said Điều này cũng tạo ra một thời điểm đầy rủi ro cho Hoa Kỳ.
Nguồn:
DUBAI—Khả năng của Iran trong việc chặn dòng chảy dầu qua eo biển Hormuz—và sử dụng điều đó làm đòn bẩy trong các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ—đang dần suy yếu, làm gia tăng nguy cơ nước này sẽ leo thang quân sự để củng cố vị thế của mình.
Vị thế của Iran bị suy giảm trong bối cảnh Hải quân Hoa Kỳ và các quốc gia sản xuất dầu vùng Vịnh đã cải thiện khả năng ngăn chặn hoặc né tránh các cuộc tấn công từ phía Iran, qua đó cho phép nhiều tàu chở dầu đi qua eo biển này hơn.
Theo các đơn vị theo dõi dữ liệu dầu khí, xuất khẩu dầu thô của Trung Đông trong tháng này đã phục hồi, đạt mức cao nhất kể từ khi cuộc chiến nổ ra vào tháng 2. Theo công ty theo dõi dữ liệu Kpler, tính đến tuần trước, các lô hàng vận chuyển qua Hormuz và các tuyến đường thay thế đã đạt gần 80% lưu lượng khu vực so với thời điểm trước chiến tranh.
Tính đến thời điểm hiện tại trong tháng này, xuất khẩu dầu thô từ các nhà sản xuất lớn ở Trung Đông—bao gồm Ả Rập Xê Út, Iraq, UAE và các nước khác, thông qua cả eo biển Hormuz lẫn các tuyến đường thay thế—đã tăng lên gần 13 triệu thùng mỗi ngày. Theo công ty theo dõi tàu thuyền Huax, đây là tổng sản lượng cao nhất kể từ tháng 2, thời điểm khu vực này xuất khẩu gần 19 triệu thùng mỗi ngày.
Các quan chức am hiểu hoạt động này cho biết, Ả Rập Xê Út cũng đã bắt đầu bơm dầu thô qua đường ống Đông-Tây (vốn bị hư hại trước đó) và chuyển dầu lên các tàu tại Biển Đỏ, mặc dù khối lượng vẫn ở mức thấp hơn bình thường. Họ cho biết một phần sản lượng hiện tại sẽ được cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Ả Rập Xê Út đã nối lại hoạt động xuất khẩu dầu qua đường ống Đông-Tây sau khi sửa chữa các hư hại. (Ảnh: Vantor/Reuters)
Ngược lại, Iran đã không thể vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz kể từ khi Hoa Kỳ tái áp đặt lệnh phong tỏa hàng hải vào tháng 7. Theo ước tính của Kpler, lượng dầu dự trữ mà Iran tích lũy được bất chấp lệnh phong tỏa có thể cạn kiệt vào giữa tháng 10, làm đứt gãy một nguồn thu quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế nước này đang chao đảo dưới áp lực của các lệnh trừng phạt và gánh nặng chiến tranh.
Sự thay đổi này làm suy yếu khả năng của Tehran trong việc gây sức ép buộc đối phương nhượng bộ bằng cách khống chế nguồn cung năng lượng toàn cầu, đồng thời triệt tiêu một trong những đòn bẩy mạnh mẽ nhất của họ trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt xung đột.
Tuy nhiên, tình thế này cũng tạo ra một động cơ nguy hiểm. Khi nguồn thu từ dầu mỏ sụt giảm và các nước láng giềng tìm ra cách lách lệnh trừng phạt, Iran có thể coi việc tái diễn các cuộc tấn công là phương thức gây áp lực khả dĩ nhất còn lại, bất chấp nguy cơ bị Mỹ trả đũa.
“Điều này cho thấy hiệu quả ngày càng giảm sút từ chiến lược của Iran tại eo biển Hormuz,” bà Sanam Vakil, Giám đốc chương trình Trung Đông tại tổ chức tư vấn Chatham House (London), nhận định. “Điều đó có thể dẫn đến một cục diện dễ bùng nổ hơn, nơi họ buộc phải khiêu khích hoặc tự mình châm ngòi cho một cuộc xung đột quy mô lớn hơn để thoát khỏi thế bí hiện tại.”
Các quốc gia sản xuất dầu mỏ vùng Vịnh lo ngại cơ sở hạ tầng năng lượng của họ có thể trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công mới. Các quan chức trong khu vực cho biết Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) – lực lượng bảo vệ chế độ Iran và hoạt động tích cực tại eo biển Hormuz – đã nhanh chóng thay đổi chiến thuật và có thể gia tăng các cuộc tấn công nhắm vào các cảng biển, nhà máy lọc dầu và đường ống dẫn dầu.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng cũng điều phối một mạng lưới các nhóm vũ trang trong khu vực. Iran đã phản ứng lại áp lực ngày càng tăng đối với nền kinh tế của họ bằng cách mở rộng phạm vi xung đột sang Biển Đỏ thông qua lực lượng Houthi – đồng minh của Iran tại Yemen – vốn đã thực hiện các cuộc tấn công nhắm vào tàu thuyền và cơ sở hạ tầng của Ả Rập Xê Út.
Hậu quả của bất kỳ sự leo thang căng thẳng nào sẽ vượt xa phạm vi khu vực. Nền kinh tế toàn cầu vẫn rất dễ bị tổn thương trước bất kỳ sự gián đoạn nào đối với dòng chảy năng lượng từ khu vực này. Mặc dù sự phục hồi của hoạt động xuất khẩu đã phần nào giảm bớt áp lực lên giá dầu, nhưng những cuộc tấn công thành công có thể nhanh chóng đẩy giá dầu tăng cao trở lại.
Lực lượng Houthi – đồng minh của Iran tại Yemen – đã đe dọa các tuyến đường vận tải biển của Ả Rập Xê Út trên Biển Đỏ. (Ảnh: AP)
“Nếu xung đột không sớm kết thúc dứt điểm, cán cân rủi ro đối với giá dầu sẽ tiếp tục nghiêng về xu hướng tăng,” Hamad Hussain, chuyên gia kinh tế cấp cao tại công ty tuw vấn kinh tế Capital Economics, nhận định.
Sau khi Mỹ và Israel phát động chiến tranh vào tháng 2, các cuộc tấn công của Iran nhắm vào eo biển này đã gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động vận tải biển, buộc các nhà sản xuất vùng Vịnh phải tìm kiếm các phương án thay thế. Ả Rập Xê Út đã chuyển hướng vận chuyển dầu thô qua sa mạc đến Biển Đỏ, trong khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) sử dụng đường ống dẫn dầu tới cảng Fujairah trên Vịnh Oman; tuy nhiên, những giải pháp này vẫn không thể bù đắp hoàn toàn sự thiếu hụt nguồn cung. Giá dầu tăng cao, kéo theo chi phí xăng và dầu diesel cũng tăng đối với người tiêu dùng Mỹ.
Iran đã tận dụng lợi thế này để đạt được thỏa thuận với Tổng thống Trump vào tháng 6, trong đó cam kết hỗ trợ tài chính ngay lập tức để đổi lấy việc mở lại tuyến đường thủy. Tuy nhiên, thỏa thuận đã đổ vỡ khi Iran bắt đầu tấn công các tàu thương mại tại eo biển này.
Mỹ đã tái áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của Iran vào tháng 7, đồng thời tăng cường nỗ lực hỗ trợ tàu thuyền của các quốc gia khác đi qua eo biển. Các nhà xuất khẩu vùng Vịnh thường dựa vào một quy trình phức tạp: bơm dầu thô lên tàu tại các trạm xuất khẩu nằm bên trong eo biển, vận chuyển qua eo biển Hormuz, sau đó bơm sang các tàu khác ở ngoài khơi Oman để phân phối ra thị trường toàn cầu.
Hôm thứ Sáu, Tổng thống Trump đã bác bỏ đề xuất ngừng bắn mới từ phía Iran; đề xuất này bao gồm việc mở lại eo biển Hormuz và dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng Iran của Mỹ trong vòng 7 ngày để tạo không gian cho các cuộc đàm phán.
Lãnh đạo Tối cao Iran, Ayatollah Mojtaba Khamenei – người chưa từng xuất hiện công khai kể từ khi kế nhiệm người cha đã qua đời – đã nhắc đến “những người bảo vệ eo biển Hormuz” trong một tuyên bố được đưa ra dưới danh nghĩa của ông vào thứ Hai. Những phát ngôn này cho thấy Tehran vẫn coi việc kiểm soát tuyến đường thủy này là phương thức quan trọng để gây sức ép lên Mỹ và các đồng minh.
Các tuyến đường thay thế để tránh đi qua Hormuz đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái (drone) xuất phát từ Iraq hồi đầu tháng này đã buộc Ả Rập Xê Út phải đóng cửa đường ống dẫn dầu Đông-Tây, trong khi các mối đe dọa từ lực lượng Houthi khiến hoạt động vận tải biển trên Biển Đỏ trở nên nguy hiểm hơn. Tình hình này buộc tập đoàn Aramco phải chuyển hướng vận chuyển. Giờ họ chuyển nhiều dầu hơn qua eo biển Hormuz. Các giải pháp thay thế cũng rất bất tiện và tốn kém. Các quan chức vùng Vịnh cho biết đây chỉ là những biện pháp tạm thời và không bền vững về lâu dài.
Iran không có phương án nào tương tự để vượt qua eo biển này. Lượng dầu thô mới được bơm lên tàu vẫn bị mắc kẹt trong vòng vây phong tỏa của Mỹ tại cửa ngõ vùng Vịnh. Các nhà phân tích ước tính xe bồn chỉ có thể vận chuyển tối đa 40.000 thùng mỗi ngày, một con số không đáng kể so với mức xuất khẩu gần 2 triệu thùng trước khi xảy ra xung đột.
Trong khi đó, lượng dầu thô của Iran đang nằm trên các tàu bên ngoài khu vực phong tỏa—vốn vẫn đang mang lại doanh thu cho Tehran—đã giảm từ 29 triệu thùng vào đầu tháng 9 xuống còn khoảng 15 triệu thùng. Kpler dự báo rằng với tốc độ hiện tại, số dầu này—vốn chủ yếu được chuyển đến Trung Quốc—sẽ cạn kiệt vào khoảng đầu đến giữa tháng 10.
“Có lẽ trong vòng hai tuần tới… họ sẽ thực hiện những đợt giao dầu cuối cùng cho Trung Quốc, và sau đó họ sẽ chẳng còn gì cả,” Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent phát biểu trên kênh Fox News hôm Chủ nhật.
Hiện tại, các cuộc tấn công của Iran nhắm vào tàu thuyền tại eo biển Hormuz dường như đã giảm bớt. Cơ quan Điều hành Thương mại Hàng hải Vương quốc Anh (UKMTO)—một đơn vị trực thuộc Hải quân Hoàng gia Anh—cho biết hôm Chủ nhật rằng không có vụ tấn công hay sự cố gián đoạn nào được xác nhận tại Hormuz trong 72 giờ qua, mặc dù nguy cơ vẫn ở mức cao.
Vụ tấn công gần đây nhất tại eo biển này được UKMTO ghi nhận là vào ngày 23 tháng 9, bất chấp những tuyên bố gần đây từ truyền thông Iran về việc các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn. Các nhà phân tích cho rằng sự tạm lắng này có thể là một cách để thăm dò thái độ của ông Trump đối với một thỏa thuận trong kỳ họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuần trước, nhưng cũng có thể chỉ là khoảng lặng nhất thời.
“Nếu giới lãnh đạo Iran cảm thấy quyền kiểm soát của họ đối với Hormuz đang suy yếu, điều đó sẽ làm gia tăng nguy cơ họ tìm kiếm các phương thức khác để leo thang xung đột,” Richard Bronze, đồng sáng lập kiêm giám đốc phụ trách mảng địa chính trị tại Energy Aspects, nhận định.
Không có nhận xét nào