Header Ads

  • Breaking News

    Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 4 Hết

    Mở cửa Dân chủ

    Tài liệu nghiên cứu đặc biệt

    2024

    Đọc lại:

    Đọc lại kỳ 1, 2 và 3

    Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 1

    https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc.html

    Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 2

    https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc_0633885994.html

    Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 3

    https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc_01966195927.html

    Thích nghi để phát đạt đã không là mới với QDĐ. Kể từ khi đến Đài Loan trong cuối các năm 1940, nó đã tỏ ra là một đảng hết sức thích nghi và một đảng mà cải cách và sự thích nghi liên tục đã là quan trọng cho sự sống sót chính trị của nó trong nhiều thập niên. Nhưng, các thói quen cũ khó bỏ, và ngay cả khi ngày càng rõ rằng QDĐ đã vượt qua đỉnh cao quyền lực chính trị của nó vào các năm 1980, đảng đã không lột các vết vằn độc đoán của nó. Có thể dự đoán được, nó tiếp tục dựa vào vốn tiết mục chiến thuật đàn áp để cản trở đối lập của nó.

    Các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến đã tiếp tục bị bỏ tù đều đặn trong các năm 1980. Một số thậm chí bị giết. Khét tiếng nhất, trong tháng Mười 1984, hai năm trước khi đảng DPP đối lập hình thành, trong một sự chứng minh tàn bạo của nó về sự coi thường luật trị (nhà nước pháp quyền) của nó, QDĐ đã ra lệnh ám sát Henry Liu, một công dân và nhà báo Mỹ đã chỉ trích chế độ. Chế độ độc đoán đã trắng trợn thừa nhận vụ ám sát, mặc dù vị tướng ra lệnh ám sát đã chỉ bị trừng phạt nhẹ nhàng. Các nhà hoạt động đối lập đã hiểu ra sự kiện bất thường này như bằng chứng về chế độ độc tài tàn bạo và tàn nhẫn của QDĐ.

    Thế nhưng trong mùa thu năm 1986, chỉ vài năm sau sự ám sát Liu, các chính trị gia tangwai đã được phép để lập ra DPP. Tổng thống Tưởng Kinh Quốc sau đó đã bãi bỏ quân luật trong 1987, khơi mào sự chuyển đổi dân chủ của Đài Loan. Vì sao QDĐ, như Steve Tsang diễn đạt, đã “tháo dỡ” những sự kiểm soát độc đoán làm cơ sở cho đảng-nhà nước và bắt đầu thử nghiệm cải cách dân chủ?18 Và vì sao đột ngột thế?

    Đảng DPP được thành lập vào ngày 28 tháng Chín 1986. Tuần trước đó, các nhà hoạt động tangwai đã tụ tập ở Đài Bắc và quyết định rằng bất chấp quân luật, đã đến lúc cho một đảng chính trị đối lập để hình thành. Báo chí do chính phủ kiểm soát và các quan chức đảng, trong vòng mấy ngày, đã sắp đặt một chiến dịch để làm mất uy tín DPP. Có vẻ cứ như DPP sắp chết yểu. Vào ngày 30 tháng Chín, hai ngày sau sự công bố thành lập DPP, phó tổng thống–khi đó Lý Đăng Huy đã báo cáo cho Tổng thống Tưởng về đảng đối lập vừa được hình thành. Theo nhật ký của Lý, Tưởng đã phản ứng điềm tĩnh. Ông tuyên bố, “Vào lúc này là không tốt để dùng đến sự tức giận và liều lĩnh thực hiện hành động hung hăng có thể gây ra những sự náo động lớn trong xã hội.”

    Phản ứng hòa giải của Tưởng ngược hoàn toàn với phản ứng trước kia của ông đối với sự lên của các nhà hoạt động đối lập trong các năm 1970, khi ông chỉ thị cho những người QDĐ trung thành để “đi ra giữa mọi người và kiểm soát họ sao cho chúng ta có thể nhắm vào các kẻ thù của chúng ta và đánh bại chúng.” Ngay sau sự hình thành DPP trong 1986, tuy vậy, Tưởng đã chỉ thị cho cùng những người QDĐ trung thành đó để “không có hành động trả đũa nào chống lại DPP.” QDĐ thừa nhận sự hình thành DPP.19

    Bruce Jacobs, một tiếng nói phê phán khi nói đến vai trò của QDĐ trong dân chủ hóa Đài Loan, nhắc nhở chúng ta rằng trong khi Tưởng “đã có đóng góp cho dân chủ hóa cuối cùng của Đài Loan,” bản thân ông đã không phải là nhà dân chủ. Có ít bằng chứng cụ thể rằng Tưởng đột ngột ủng hộ các nguyên tắc và các cam kết dân chủ. Tuy nhiên, các quyết định chính trị của ông đã là then chốt trong việc đưa Đài Loan lên một con đường tới nền dân chủ. Có rất nhiều bằng chứng để gợi ý Tưởng đã bắt đầu thay đổi tâm trí của ông rồi về sự bám lấy quyền lực độc đoán của QDĐ trước các sự kiện quan trọng của 1986. Như Jacobs chỉ ra, Tưởng đã làm rõ trong 1985 rằng Đài Loan sẽ không bị triều đại gia đình cai trị, và rằng tổng thống tiếp theo sẽ là ai đó từ bên ngoài gia đình Tưởng.20 Tưởng, với sự ngạc nhiên của nhiều người, đã chọn Lý Đăng Huy, một chính trị gia sắc tộc Đài loan, làm phó tổng thống và người kế vị của ông.

    Tưởng Kinh Quốc đã lưu ý một nhà báo nước ngoài trong 1983, ba năm trước sự hình thành DPP, rằng “các đối thủ chính trị trong xã hội của chúng ta phục vụ để tạo ra sự tiến bộ,” một sự khác biệt rõ rệt với quan điểm của ông trong các năm 1970 và một sự báo hiệu về sự sẵn lòng của ông để khoan dung các tiếng nói đối lập trong một sự tự do hóa Đài Loan từ từ.21 Đáng chú ý nhất, sau khi DPP được thành lập bất chấp quân luật, Tưởng thừa nhận một cách nổi tiếng rằng “thời gian đã thay đổi; các sự kiện đã thay đổi; các xu hướng đã thay đổi. Đáp lại những sự thay đổi này, đảng cầm quyền phải chấp nhận những cách mới để đáp ứng cách mạng dân chủ này và liên kết với xu thế lịch sử này.”22 Shelley Rigger, một người có thẩm quyền hàng đầu về sự phát triển chính trị của Đài Loan, diễn đạt theo cách này: “Sự bức hại và sự đàn áp nhường đường cho sự khoan dung và sự cạnh tranh.”23

    Sự mở cửa dân chủ của Đài Loan, được sự hình thành đột ngột của DPP tạo ra trong 1986 và được tiếp theo bởi sự bằng lòng thậm chí còn bất ngờ hơn của chế độ QDĐ, đã khởi động chuyển đổi dân chủ của Đài Loan. Các quân domino độc đoán mau chóng bắt đầu đổ khi chế độ thừa nhận các cải cách dân chủ khác. Các cuộc bầu cử bổ sung cho một số ghế hạn chế được tổ chức trong tháng Mười Hai 1989 cho Viện Lập pháp, và lần đầu tiên, các ứng viên được phép ứng cử dưới biểu ngữ của một đảng đối lập. Cho cuộc bầu cử chưa từng có, các ứng viên DPP giành được gần 25 phần trăm phiếu phổ thông và lấy được 12 trong số 73 ghế tranh cử. Sau đó, các cuộc bầu cử lập pháp đầy đủ được tổ chức trong 1992, tiếp theo bởi cuộc tranh đua tổng thống đầu tiên của Đài Loan trong 1996, đều là các sự kiện cột mốc trong dân chủ hóa của Đài Loan.

    Sự mở cửa dân chủ của Đài Loan đã không chỉ phản ánh về những sự thay đổi trong vũ đài bầu cử. Chế độ QDĐ cũng đã mở không gian chính trị trong xã hội dân sự. Sau sự hình thành DPP trong 1986, DPP và các nhà hoạt động đối lập đã xuống đường và tổ chức các cuộc biểu tình chống lại nhà nước độc đoán. Các cuộc phản kháng chính trị một cách cụ thể, ngược với hoạt động xã hội (activism -chủ nghĩa tích cực) kinh tế hay môi trường, tăng gần gấp đôi về con số từ 1986 đến 1987, như kích thước của các cuộc phản kháng xã hội đã tăng.24

    Chế độ đã không đàn áp. Thay vào đó, QDĐ đã đáp ứng bằng việc thả một số tù nhân chính trị bị bỏ tù vì các hoạt động đối lập của họ. Đáng chú ý nhất, chế độ độc đoán đã bãi bỏ quân luật trong tháng Bảy 1987, chấm dứt gần bốn thập niên cai trị đàn áp. Mặc dù nước đi quyết định và bước ngoặt này được đi trước bởi hàng tháng tranh luận căng thẳng bên trong ban lãnh đạo QDĐ, đã không có sự bất đồng chính kiến hay sự đào ngũ công khai nào một khi nó xảy ra. Những sự thừa nhận dân chủ lần lượt xuất hiện đã phản ánh một đảng thống nhất một cách rất ấn tượng, không phải bị chia rẽ một cách không thể xử trí được.

    Chế độ đã nới lỏng sự kìm kẹp độc đoán của nó theo những cách khác nữa. Trong cuối 1987 chính phủ đã cho phép các cư dân Đài loan để thăm Trung Quốc lần đầu tiên kể từ trước khi QDĐ đến trong cuối các năm 1940, phản ánh lập trường ôn hòa của đảng cầm quyền về các mối quan hệ ngang-eo biển. Vào ngày 1 tháng Giêng 1988, chỉ vài tuần trước cái chết của ông, Tổng thống Tưởng Kinh Quốc đã bãi bỏ những hạn chế media (báo chí, các phương tiện truyền thông), một cách cụ thể những hạn chế được áp đặt lên các nguồn tin độc lập chỉ trích chế độ QDĐ. Việc này đã dẫn đến sự tăng nhanh của các nhật báo, các tạp chí, các đài radio, và các mạng tin tức truyền hình, nhiều trong số đó đưa những câu chuyện và công bố các bài xã luận mà có lẽ đã dẫn đến sự đóng cửa và kiểm duyệt ở Đài Loan độc đoán. Hoạt động phản kháng xã hội đã tăng đáng kể từ 1987 trở đi, khi số và độ lớn của những cuộc biểu tình xã hội đã tăng nhanh, và chính phủ QDĐ trung ương đã trở thành mục tiêu của sự huy động đối lập. Hầu như một sớm một chiều, có vẻ, hệ thống chính trị của Đài Loan và xã hội Đài loan đã mở ra.

    Sự trở mặt chính trị của QDĐ đã gây bối rối vì vài lý do. Thứ nhất, Đài Loan đã dân chủ hóa trong thời gian tốt về mặt kinh tế.25 Không giống trong nhiều xã hội dân chủ hóa, mà trong đó những cải cách dân chủ được thừa nhận trong khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, sự mở cửa dân chủ của Đài Loan đã xảy ra khi nền kinh tế vẫn hoạt động mạnh như trước kia, và phần lớn xã hội đã vẫn ổn định. Nền kinh tế Đài loan đã mạnh, và thực ra đang trở nên mạnh hơn. Tỷ lệ việc làm đã tiếp tục cao. Các ngành công nghiệp của Đài Loan đang leo lên chuỗi giá trị toàn cầu, và các công nhân và các ông chủ như nhau đã trở nên giàu hơn. Đã không phải cứ như QDĐ đang chủ trì một nền kinh tế thất bại hay thậm chí khập khiễng trong giữa-các năm 1980; đúng hơn, nó đã chủ trì một nhà nước kiến tạo-phát triển mà hầu hết mọi người trên hòn đảo tiếp tục ghi công trạng cho nó vì phép màu kinh tế của Đài Loan.

    Nói về mặt chính trị, đảng cũng đã không trong khủng hoảng, chế độ cũng đã chẳng trên bờ vực sụp đổ. Nó đã không phải là một đảng trong ngay cả sự bắt đầu của bất kể vòng xoáy từ thần nào tới sự lỗi thời. Các cuộc phản kháng xã hội đã tăng trong 1987, mặc dù nói một cách so sánh, các cuộc phản kháng chính trị ở Đài Loan đã ít và bé tẹo so với các nước độc đoán khác, nhất là Hàn Quốc và các cuộc biểu tình minjung giữa-các năm 1980, tập hợp hàng trăm ngàn người biểu tình trên đường phố. Cái xảy ra ở Đài Loan đã dứt khoát không phải là một ví dụ về dân chủ qua sự yếu kém, như như chúng ta đã thấy ở Philippines vài năm trước khi Ferdinand Marcos bị đuổi khỏi nước và chế độ bị lật đổ của ông trong đổ nát sau phong trào sức Mạnh Nhân dân.

    Hơn nữa, đã không có đảng chính trị nào đang đợi trong cánh gà ở Đài Loan, sẵn sàng để thay thế QDĐ. Bất chấp kết quả bầu cử đầy ấn tượng của các chính trị gia tangwai và các ứng viên độc lập trong cuối các năm 1970 và đầu các năm 1980, QDĐ đã vẫn là lực lượng chính trị thống trị trong Viện Lập pháp và nhánh hành pháp của chính phủ. Mặc dù sự được lòng dân của đảng rõ ràng đã giảm từ từ, đường cong đi xuống đã không dốc. Ngay cả sau khi QDĐ nghiền nát dữ dội các cuộc biểu tình Chungli và Kaohsiung trong các năm 1970, và đảng đã bị một cú đánh trong bầu cử, nó đã tiếp tục giành được hơn hai phần ba số phiếu phổ thông trong các cuộc bầu cử lập pháp. Nói cách khác, đối lập đang nổi lên đã không ở trong vị thế nghiêm túc nào để đe dọa QDĐ và sự nắm giữ quyền lực của nó. Và tuy nhiên, bất chấp điều này—hay như chúng tôi lập luận, chính bởi vì điều này mà—QDĐ thừa nhận dân chủ.

    Thừa nhận với sự Tự tin

    Chúng tôi cho rằng QDĐ đã chọn để thừa nhận dân chủ không phải bởi vì bất kể mối đe dọa sắp xảy ra nào đối với sự nắm quyền lực chính trị của nó mà chính xác bởi vì đã không có mối đe dọa thực nào đối với sự thống trị chính trị của đảng, ngay cả sau khi dân chủ hóa phát triển mạnh. QDĐ đã vượt qua đỉnh điểm quyền lực của nó vào giữa-các năm 1980, nhưng nó đã chỉ vừa qua đỉnh điểm. Vì thế việc thừa nhận dân chủ lúc đó đã không nhất thiết là xấu cho QDĐ, nó cũng sẽ chẳng gây tai hại cho các vận may chính trị của nó để tiến về phía trước.

    Như trường hợp mẫu mực của dân chủ qua sức mạnh, QDĐ đã thừa nhận dân chủ phần lớn bởi vì các sức mạnh áp đảo của nó. Các tín hiệu bầu cử đã rõ rằng QDĐ đối mặt với một đối lập đang nổi lên, nhưng tuy nhiên các tín hiệu làm yên lòng chế độ đương nhiệm rằng sự nắm quyền lực của nó—ngay cả trong một nền dân chủ—sẽ vẫn mạnh. Trong những cuộc bầu cử lập pháp bổ sung đầu tiên trong 1989, sau khi chấm dứt quân luật và khi DPP đã tham gia như một đảng chính thức, QDĐ đã được 59 phần trăm phiếu phổ thông và giành được 68 phần trăm ghế tranh cử. Đảng cầm quyền đã giữ lại siêu đa số của nó trong Viện Lập pháp.

    Như chúng tôi nhấn mạnh trong lý thuyết của chúng tôi về dân chủ qua sức mạnh, khi một đảng độc đoán cầm quyền vượt qua đỉnh điểm quyền lực, nó thấy mình trong một vùng “buồn vui lẫn lộn” (“bittersweet” spot). Đấy là lúc lý tưởng để xem xét một chiến lược dân chủ qua sức mạnh. Nó là “cay đắng (buồn)” bởi vì đảng đã vượt qua đỉnh điểm quyền lực của nó, nhưng dù sao vẫn “ngọt ngào (vui)” bởi vì đảng đương nhiệm, trong trường hợp này QDĐ, giữ lại một liên minh ủng hộ đủ rộng hơn để khiến nó, một đảng độc đoán-biến thành-đảng dân chủ, có khả năng làm ăn tốt trong nền dân chủ. Nếu đảng đặc biệt mạnh, như QDĐ, thì nó có thể thậm chí tiếp tục là đảng thống trị.

    Như chúng ta sẽ thấy trong chương tiếp, chế độ độc đoán đương nhiệm ở Hàn Quốc đã cũng mạnh nhưng không mạnh như QDĐ ở Đài Loan. Sự được lòng cử tri của Chế độ Hàn quốc đã thấp hơn của QDĐ nhiều, và chế độ Chun Doo-hwan đã đối mặt với một phong trào đối lập lớn hơn và bền vững hơn nhiều. Nói đơn giản, chiến lược nhân nhượng ở Hàn Quốc đã rủi ro hơn nhiều cho chế độ đương nhiệm. Cho QDĐ, mặt khác, việc thừa nhận dân chủ đã khá rõ ràng không phải tương đương với sự thừa nhận thất bại. Như nhà khoa học chính trị Bruce Dickson diễn đạt, việc chấp nhận nền dân chủ và việc khởi xướng cải cách ở Đài Loan đã là “phương tiện hay nhất” của đảng “để duy trì sự nắm quyền của nó … và cải thiện uy tín của QDĐ ở nước ngoài.”26 Thật trớ trêu, dân chủ qua sức mạnh đã không chỉ tốt cho Đài Loan mà rốt cuộc cũng tốt cho QDĐ.

    Nguồn tự tin lớn nhất của QDĐ về các triển vọng của nó trong nền dân chủ đến từ lời xác nhận đáng tin cậy của đảng là nó đã chỉ huy phép màu kinh tế sau chiến tranh của Đài Loan. Bắt đầu với cải cách đất đai trong đầu các năm 1950, tiếp sau bởi các khoản đầu tư vào giáo dục trong các năm 1960, nhà nước kiến tạo-phát triển do QDĐ-lãnh đạo đã đặt nền kinh tế Đài loan lên một con đường tới không chỉ sự tăng trưởng nhanh mà đến sự tăng trưởng kinh tế công bằng. Sự nhấn mạnh của nhà nước đến việc nuôi dưỡng sự phát triển các SME đã cho phép hầu hết những người Đài loan được lợi từ sự hiện đại hóa kinh tế. Các hãng công nghiệp địa phương được các chính sách nhà nước hỗ trợ—từ các khuyến khích tài khóa có mục tiêu đến các trợ cấp cho R&D high-tech—mà đã bảo vệ và khuyến khích các công ty non trẻ của Đài Loan để trở nên có tính cạnh tranh toàn cầu và để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Thành tích phát triển của QDĐ, kết hợp với lời hứa đáng tin cậy về sự tăng trưởng tiếp tục vào tương lai, đã mang lại cho QDĐ lượng khổng lồ của tính chính danh thành tích. Đảng cầm quyền đã tự tin tính chính danh này sẽ chuyển thành sự ủng hộ cử tri trong nền dân chủ.

    QDĐ cũng đã tự tin về những triển vọng của nó trong nền dân chủ vì vài lý do khác, trực tiếp hơn. Thứ nhất, và có lẽ quan trọng nhất, QDĐ đã có được một lợi thế bầu cử to lớn hơn DPP. Với tư cách đảng đương nhiệm—và cho đến 1986, đảng chính trị duy nhất ở Đài Loan—QDĐ đã tích lũy được một cơ sở đảng viên cấp cơ sở to lớn cũng như một cấu trúc tổ chức từ trên xuống cho phép đảng thâm nhập sâu vào xã hội. Hơn nữa, như đã thảo luận sớm hơn trong chương này, QDĐ đã chiêu mộ các quan chức địa phương và sắc tộc Đài loan vào đội ngũ đảng và cho các vai trò lãnh đạo trong chính phủ, neo đảng cầm quyền vào chính trị xã hội Đài loan và cố gắng để xóa bỏ hình ảnh về QDĐ như một chế độ lưu vong. Đảng cầm quyền cũng đã thiết lập một bộ máy chính trị ghê gớm vào lúc mở cửa dân chủ của Đài Loan, trong sự kiểm soát các mạng lưới mênh mông của các chi bộ đảng mà có thể mang lại phiếu trong các khu vực bầu cử địa phương. Sau khi đã khởi xướng các cuộc bầu cử bổ sung bắt đầu trong 1966, QDĐ đã có được kinh nghiệm trong các cuộc bầu cử cạnh tranh, mà cuối cùng đã giúp nó giữ lại một lợi thế bầu cử trong nền dân chủ.

    Với tư cách đảng cầm quyền đương nhiệm, QDĐ cũng đã có sức mạnh để lãnh đạo sự chuyển đổi chính trị của Đài Loan bằng việc định hình các quy tắc trò chơi dân chủ. Giống với các đảng bảo thủ ở Nhật Bản hậu chiến, QDĐ đã soạn các quy tắc tạo thuận lợi cho đảng đương nhiệm, trong khi vẫn nhất quán với các quá trình dân chủ. Đáng chú ý, chế độ chấp nhận một hệ thống bầu cử SNTV (Single Non-Transferable Vote - lá phiếu duy nhất không thể chuyển nhượng) và khu vực bầu cử nhiều thành viên (multimember district-tức là có nhiều hơn một người thắng cử)*, mà thiên vị nặng cho QDĐ. Quốc Dân Đảng, do quy mô và các nguồn lực đảng to lớn của nó, đã có khả năng đề cử các ứng viên một cách chiến lược và phân bổ phiếu bên trong một khu vực bầu cử duy nhất. Trong khi đó, DPP đã không có tập hợp ứng viên cũng chẳng có các nguồn lực để bắt kịp đảng đương nhiệm. Ngoài ra, DPP đối lập đã bị chia rẽ bè phái sâu sắc giữa cánh ôn hòa và cánh cấp tiến, làm khó cho đảng để phối hợp sự đề cử ứng viên trong các khu vực bầu cử nhiều thành viên. Bản đồ bầu cử và sự phân chia ghế cũng đã cho QDĐ, như LDP ở Nhật Bản, một phần thưởng ghế không cân xứng trong các vùng nông thôn nơi đảng cầm quyền đặc biệt hiệu quả trong việc kiếm phiếu, và nơi đối lập đặc biệt yếu. DPP đã tìm thấy các thành trì bầu cử của nó trong các thành phố giữa các elite Đài loan có giáo dục.

    Nói cách khác, trong khi dân chủ hóa ở Đài Loan đã đưa vào các cuộc bầu cử tự do và công bằng hơn, các quy tắc trò chơi bầu cử, kết hợp với sức mạnh đương nhiệm của QDĐ, đã có nghĩa là QDĐ có thể tự tin rằng nó sẽ phát đạt trong nền dân chủ. Mặc dù các quy tắc quản trị sân chơi chính trị được làm phẳng, sự chênh lệch to lớn về các sức mạnh trước đó của các đảng làm cho nó, ít nhất lúc đầu trong kinh nghiệm dân chủ của Đài Loan, là một cuộc đấu không-công bằng. Tính không-công bằng này là một sản phẩm của các sức mạnh được kế thừa của QDĐ, không phải bất cứ sự không-công bằng hay đặc tính phi-dân chủ vốn có nào của các quy tắc bầu cử mà QDĐ đã cố đòi.

    Một nguồn sát gần khác của sự tự tin cho QDĐ là nó đã có thể tự nhận một cách đáng tin cậy là đảng cải cách dân chủ. Nó đã chủ động theo đuổi cải cách chính trị, không phải là một đảng ngoan cố chống lại nền dân chủ cho đến sự kết thúc cay đắng. Ngay cả trước sự hình thành DPP trong 1986, Tưởng Kinh Quốc đã bắt đầu hợp nhất phái ôn hòa bên trong QDĐ, mở đường rốt cuộc cho lãnh đạo đảng và phó tổng thống Lý Đăng Huy để củng cố phái “dòng chính” định hướng-cải cách bên trong đảng. Phái dòng chính ôn hòa đã tỏ ra là quan trọng trong việc gạt sang bên lề và xua đuổi phái QDĐ cứng rắn, chống dân chủ. Sự củng cố quyền lực của Lý và của phái dòng chính đã củng cố cánh ôn hòa của đảng và đã hợp pháp hóa sự sẵn lòng của nó để tham gia đối thoại dân chủ với đối lập.

    Ngay từ 1984, Tổng thống Tưởng Kinh Quốc đã liên hệ với các nhà hoạt động tangwai đối lập ôn hòa để bắt đầu những đối thoại chính trị về cải cách chính trị. Các cuộc thảo luận đã giúp QDĐ nhận diện những nhà lãnh đạo ôn hòa bên trong hàng ngũ của nó và những đối tác của họ trong phe đối lập. Việc tập hợp những người ôn hòa từ cả hai bên đã trấn an QDĐ rằng sự hình thành cuối cùng của một đảng đối lập sẽ không dẫn đến sự cực đoan hóa và sự gây mất ổn định tiềm năng của nền chính trị. Cuộc đối thoại trước chuyển đổi cũng đã cho phép các phái ôn hòa trong cả hai bên để quen biết nhau, ngay cả trước khi sự hình thành chính thức của DPP.

    Vào lúc có những dấu hiệu báo điềm gở đã rõ ràng trong các tháng dẫn đến sự hình thành DPP trong 1986, QDĐ, lại theo lệnh rõ ràng của Tưởng, đã khởi xướng sự đối thoại “với đối lập để tăng sự hiểu biết lẫn nhau” giữa hai bên.27 Những người ôn hòa từ cả QDĐ và tangwai đã nhấn mạnh đến sự cẩn thiết cho sự hài hòa chính trị, đã đồng ý với, giữa những cải cách khác, sự cần cho một hiến pháp mới và sự lập ra một Hội Nghiên cứu Chính sách Công liên kết với tangwai, tiền thân về mặt tổ chức của DPP.

    Bất chấp quá khứ độc tài của của QDĐ, đảng cầm quyền đã có khả năng dựa vào nền tảng cộng hòa và sự chống cộng thành thật của nó để hợp pháp hóa sự chuyển hướng dân chủ của nó. Tưởng đã nhắc đến Ba Nguyên tắc của Tôn Dật Tiên để neo di sản dân chủ cộng hòa của QDĐ và hợp pháp hóa tầm nhìn của đảng về một tương lai dân chủ.* Tưởng đã khẳng định đảng phải “khởi xướng chính phủ dân chủ hiến định; từ bỏ chế độ độc tài và đấu tranh giai cấp; thực sự thực hiện một con đường cho nhân dân của chúng ta để quyết định số phận của họ; trả lại quyền lực chính trị cho nhân dân; và làm cho họ hoàn toàn bình đẳng trước luật.”28 Việc Tưởng đưa ra tuyên bố này trong hội nghị trung ương QDĐ trong tháng Ba 1985, mười tám tháng trước sự hình thành của DPP, đã trao tính đáng tin cậy thêm cho cánh ôn hòa của QDĐ lãnh đạo cải cách dân chủ.

    Rốt cuộc, chuyển đổi dân chủ của Đài Loan đã ít ghập ghềnh hơn hầu hết các thử nghiệm dân chủ khác ở châu Á kiến tạo-phát triển. Phần lớn sự ổn định đó có thể được quy cho những cố gắng của cả QDĐ và đối lập để tiết chế các lập trường của họ quanh một bản kế hoạch dân chủ, ngay cả trước khi quá trình chuyển đổi bắt đầu. Sự điều độ đã là quan trọng cho sự tự tin của QDĐ rằng dân chủ hóa sẽ không xúi giục sự bất ổn định chính trị cũng chẳng đe dọa khả năng của đảng cầm quyền để giữ lại quyền lực chính trị, ít nhất trong ngắn hạn. Từ quan điểm của đối lập, sự chuyển đổi, cho dù đầy các dấu ấn của QDĐ trên nó, đã có nghĩa là DPP có thể tranh cử dân chủ một cách hợp pháp như một đảng chính trị, và rằng nó có thể, bất kể khả năng có xa xôi đến thế nào lúc đó, cuối cùng đánh bại QDĐ và trở thành một đảng cầm quyền được bàu một cách dân chủ ở Đài Loan.29 Đối lập đã cũng đầu tư vào các triển vọng dân chủ của Đài Loan.

    Củng cố sự Thống trị Dân chủ của QDĐ

    Vào đêm trước chuyển đổi dân chủ Đài loan, QDĐ đã là đảng đương nhiệm mạnh nhất trong số một tá trường hợp được xem xét trong cuốn sách này, sự tự tin dân chủ hóa sẽ không đe dọa sự ổn định chính trị và kinh tế của Đài Loan cũng chẳng đe dọa sự nắm quyền của QDĐ. Khi QDĐ bắt đầu cải cách dân chủ bắt đầu trong cuối các năm 1980, đảng cầm quyền đã tiếp tục giành được đa số sự ủng hộ của các cử tri và đã chủ trì một nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Sự phản kháng xã hội, trong khi tăng lên, đã chẳng hề gần với độ lớn và quy mô của sự phản kháng chính trị mà chúng ta đã thấy ở Hàn Quốc trong chuyển đổi của nước đó sang nền dân chủ. Về mặt địa-chính trị, việc thừa nhận dân chủ đã là tốt cho QDĐ và Đài Loan bởi vì nó bảo đảm sự ủng hộ tiếp tục của Mỹ, mặc dù siêu cường đã bình thường hóa các mối quan hệ với Trung Quốc. Trong phổ của “các trường hợp thừa nhận” đã theo đuổi dân chủ qua sức mạnh được xem xét trong cuốn sách này, QDĐ đã mạnh nhất trong số các đảng độc đoán đương nhiệm, tự tin nhất rằng việc thừa nhận dân chủ sẽ ổn định, và có khả năng nhất để tiếp tục như một đảng dân chủ cầm quyền.30

    Như chúng tôi kỳ vọng trong lý thuyết của chúng tôi về dân chủ qua sức mạnh, các đảng đương nhiệm mạnh nhất, mà chọn để thừa nhận dân chủ, có thể dự đoán được sẽ thắng thế với tư cách đảng chính trị mạnh nhất sau một chuyển đổi dân chủ. Đi từ sức mạnh tới sức mạnh, QDĐ quả thực đã vẫn là lực lượng chính trị thống trị trong nền dân chủ trẻ của Đài Loan.

    Trong các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp 1992—các cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Đài Loan cho toàn bộ cơ quan lập pháp—QDĐ giành được 53 phần trăm phiếu phổ thông và chiếm 63 phần trăm ghế của cơ quan lập pháp. Trong các cuộc bầu cử tổng thống sáng lập 1996, liên danh QDĐ của Lý Đăng Huy và Liên Chiến đã thắng dễ dàng, với 54 phần trăm sự ủng hộ từ các cử tri. Trong khi đó, ứng viên DPP, nhà bất đồng chính kiến lâu đời Bành Minh Mẫn (Peng Ming-min), đã giành được chỉ 21 phần trăm phiếu bàu. Canh bạc dân chủ của QDĐ đã mang lại kết quả; nó thừa nhận dân chủ không phải để bàn giao quyền lực cho đối lập mà để giữ lại sự thống trị chính trị của nó.

    Thành công bầu cử ban đầu của QDĐ trớ trêu thay đã giúp bình thường hóa nền dân chủ ở Đài Loan, hơn là làm trật đường ray nó hay thúc đẩy một sự thụt lùi dân chủ. Đã không phải cứ như QDĐ coi các chiến thắng bầu cử ban đầu của nó trong 1992 và 1996 như một dấu hiệu rằng các cử tri Đài loan đã muốn quay lại chủ nghĩa độc đoán QDĐ; ván đã đóng thuyền (cơ hội đó đã mất rồi). Thay vào đó QDĐ đã xem thành công bầu cử đang diễn ra của nó như một mệnh lệnh để cải cách hơn nữa và để chuyển đổi đảng thành một đảng chính trị thực sự dân chủ và thống trị một cách dân chủ. QDĐ đã đẩy nhanh sự chuyển đổi dân chủ bởi vì sự tự tin nó đã có về khả năng của nó để làm ăn tốt trong nền dân chủ. Không phải là trường hợp mà các đảng dân chủ thống trị sẽ nhất thiết làm hỏng hay đảo ngược nền dân chủ với dấu hiệu đầu tiên về sự rắc rối chính trị. Liên quan đến QDĐ, đảng cầm quyền đương nhiệm đã tiếp tục một quỹ đạo cải cách chính xác bởi vì đảng đã sẵn sàng để thịnh vượng.

    Trong khi QDĐ bảo đảm các lợi thế của riêng nó trong nền dân chủ, nhất là với hệ thống khu vực bầu cử nhiều người trúng, đảng cầm quyền cũng đã thực hiện sự ràng buộc dân chủ đang diễn ra sau sự mở cửa dân chủ của Đài Loan. Sự ràng buộc dân chủ gây ra sự làm sâu sắc dân chủ, mà đã làm phẳng thêm sân chơi chính trị cho đối lập và áp đặt các sự bảo vệ dân chủ bên trong QDĐ.

    Sau khi Tưởng qua đời trong 1988, người kế vị của ông, Lý, đã triệu tập Hội nghị Quốc gia (Quốc Thị Hội Nghị) 1990 (NAC). NAC đã đưa các nhà lãnh đạo QDĐ và đối lập lại với nhau để xây dựng đồng thuận về các cải cách chính trị thêm. Trong thời gian chuẩn bị NAC, Lý đã thành công củng cố phái dòng chính của QDĐ, gạt các đối thủ độc đoán của ông trong đảng. Sự điều độ chính trị của QDĐ, với sự chèo lái của Lý, đã lôi kéo các nhà lãnh đạo DPP đối lập tới bàn thương lượng trong 1990, đúng như những cố gắng của Tưởng, ủng hộ phe ôn hòa trong phe QDĐ, đã làm trong giữa-các năm 1980. Tại hội nghị 1990, các nhà lãnh đạo từ QDĐ và DPP vạch ra một bản kế hoạch cho cải cách dân chủ, kể cả các thỏa thuận về cải cách hiến pháp và việc đưa vào các cuộc bầu cử lập pháp đầy đủ và bầu cử tổng thống. Diễn đàn NAC đã đem lại sức sống cho nhiều diễn đàn thương lượng trong các năm kế tiếp, trong đó các nhà lãnh đạo QDĐ và các đối tác DPP của họ sắp đặt các cải cách dân chủ thêm.

    Dưới các quy tắc trò chơi dân chủ, QDĐ đã không còn có thể duy trì quyền lực qua các phương tiện độc đoán nữa, như đàn áp bất đồng chính kiến, mà thay vào đó cần thắng các cuộc bầu cử hết sức cạnh tranh. Đảng đương nhiệm cần mở rộng cơ sở cử tri ủng hộ của nó. Sao chép cách làm thành công của LDP ở Nhật Bản, QDĐ đã phát triển cơ sở ủng hộ của nó bằng việc tiết chế các cương lĩnh chính sách và chương trình của nó, tập trung, chẳng hạn, vào các chính sách thúc đẩy rõ ràng sự tái phân phối kinh tế hơn để thu hẹp khoảng cách giữa những người giàu và người nghèo.

    Giống LDP, QDĐ đã định vị mình như một đảng bao quát, chèn lấn đối lập trên các vấn đề được lòng dân như cải cách kinh tế và sự mở rộng chính sách xã hội. Bắt đầu trong các năm 1990, QDĐ đã đưa ra một loạt chính sách xã hội và kinh tế, giống như LDP đã đưa ra ở Nhật Bản trong các năm 1960 khi đảng bảo thủ cầm quyền đã củng cố sức mạnh bầu cử của nó. Chính phủ QDĐ đã đề xướng những cải cách chính sách phúc lợi xã hội quan trọng và đã mở rộng quy mô độ phủ và các lợi ích trong các chương trình xã hội hiện có, như sơ đồ bảo hiểm lao động do chính phủ-quản lý cũng như các phúc lợi nơi làm việc.

    Logic của chiến lược chính trị của QDĐ là rõ nhất trong ví dụ về cải cách chăm sóc sức khỏe. Trong 1988 QDĐ công bố một kế hoạch để đưa một chương trình bảo hiểm sức khỏe quốc gia phổ quát vào trong 1995, giành được sự ủng hộ đáng kể cho QDĐ giữa các công nhân đô thị và các nông dân nông thôn vào đêm trước cuộc bầu cử lập pháp đầu tiên của Đài Loan. Với áp lực từ Tổng thống Lý, chính phủ đã chính thức khai trương chương trình bảo hiểm sức khỏe quốc gia chỉ mấy tháng trước cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của Đài Loan trong 1996. Việc thực hiện sơ đồ bảo hiểm sức khỏe phổ quát đã là một thành tựu chính sách xã hội quan trọng và một chính sách đã làm giảm cơ sở cử tri của DPP, nhất là phái xã hội dân chủ của nó.

    Đảng cầm quyền đã áp dụng một chiến lược bao quát tương tự trong các cuộc bầu cử khác. Trong các cuộc tranh đua mức-địa phương, các ứng viên QDĐ đưa ra các chương trình an toàn thu nhập tuổi già để thu hút các cử tri già hơn, buộc DPP làm theo và đưa ra các lời hứa chính sách xã hội tương tự. Điểm then chốt là sự thống trị chính trị tiếp tục của QDĐ vào các năm 1990 đã không đơn giản là một sự lưu nhiệm từ quá khứ độc đoán của nó, mà đúng hơn một phần là do những cố gắng có chủ ý của nó để tiết chế các chính sách và các cương lĩnh của nó để thu hút nhiều cử tri hơn.31 QDĐ, nói cách khác, đã không chỉ “đánh bạc nền dân chủ”32 mà “đánh bạc cho nền dân chủ,”33 và nó đang tìm ra cách để thắng canh bạc đó.

    Bình thường hóa nền Dân chủ ở Đài Loan

    Chẳng gì được bảo đảm cả trong nền dân chủ. Quả thực, nền dân chủ bằng với sự thể chế hóa sự không chắc chắn chính trị, như Adam Przeworski nhắc nhở chúng ta. Sự thống trị bầu cử của QDĐ đã không thể là một kết quả có thể dự đoán được mãi mãi. Bình thường hóa nền dân chủ đòi hỏi chí ít khả năng của một sự luân phiên trong quyền lực. Khác đi, thì đối lập có thể không thấy giá trị của nền dân chủ, và sự thiếu sót bởi vì các định chế dân chủ được cảm nhận là nông, và sân chơi chính trị không bằng phẳng hay không-công bằng đến mức chúng chỉ là vẻ bề ngoài giả dối cho một chế độ độc đoán.

    Tuy vậy, sự đào ngũ đối lập và sự thụt lùi dân chủ đã không xảy ra Đài Loan. Sự giữ vững quyền lực của QDĐ, một thời dường như không thể bị tấn công, đã giảm dần khi nền dân chủ được bình thường hóa. Trong 1993 các tàn dư của phái cứng rắn bên trong QDĐ đã tách ra để thành lập Đảng mới. Đảng mới giỏi nhất đã là một đảng bên rìa, mặc dù nó vẫn làm giảm phần ghế của QDĐ tại Viện Lập pháp. Trong các cuộc bầu cử lập pháp 1995, như được kỳ vọng, QDĐ giành được một đa số nhỏ hơn, với 52 phần trăm số ghế lập pháp, giảm xuống từ 59 phần trăm trong 1992.

    Thật quan trọng, khi nền dân chủ được bình thường hóa hơn ở Đài Loan, các triển vọng của đối lập để làm mất ghế của QDĐ được cải thiện. Giữa các cuộc bầu cử Viện Lập pháp 1992 và 1995, phần ghế của DPP đã cải thiện một chút, từ 51 lên 54 ghế. Phần phiếu phổ thông của DPP cũng được cải thiện một chút từ 31 phần trăm lên 33 phần trăm. Trong khi đó QDĐ đã trải nghiệm một sự giảm đáng kể không chỉ về phần ghế trong cơ quan lập pháp mà cả về phiếu phổ thông, giảm từ 53 phần trăm phiếu trong 1992 xuống 46 phần trăm trong 1995. Điều này một phần là do sự tăng thêm của Đảng mới cũng như sự thể hiện được cải thiện của DPP trong vài cuộc bầu cử. DPP rõ ràng đã không phải là một đảng đầu voi đuôi chuột nhất thời, mà đúng hơn như một đảng chính trị sẽ mãi ở đó.

    Nền dân chủ Đài loan đã trải nghiệm sự luân phiên quyền lực đầu tiên của nó trong các cuộc bầu cử tổng thống 2000, khi ứng viên của đảng DPP Trần Thủy Biển đánh bại sát nút ứng viên QDĐ với 39 phần trăm phiếu bàu. Trần đã lại thắng trong cuộc bầu cử 2004, mặc dù với một sự chênh lệch nhỏ hơn. Việc bầu Trần vào chức tổng thống trong 2000 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với QDĐ, và cuối cùng đối với số phận dân chủ hóa của Đài Loan. Mặc dù QDĐ tiếp tục kiểm soát một đa số ghế trong cơ quan lập pháp, cuộc bầu cử tổng thống 2000 là lần đầu tiên QDĐ đã thua một cuộc bầu cử ở Đài Loan—bất kể cuộc bầu cử nào. Đã không rõ lúc đó QDĐ sẽ phản ứng thế nào với sự thất bại đầu tiên của nó. Một số người suy đoán QDĐ có thể đảo ngược cải cách dân chủ và phục hồi quá khứ độc đoán của đảng, và rằng nó có thể trở thành một kẻ làm hỏng dân chủ khi nó chịu thất bại đầu tiên của nó.34

    Thay vào đó, QDĐ tập hợp lại. Sau khi chịu một thất bại nữa, còn sít sao hơn trong các cuộc bầu cử tổng thống in 2004, QDĐ đã chọn thị trưởng Đài Bắc–khi đó Mã Anh Cửu để trở thành nhà lãnh đạo mới của đảng. Mã được lòng dân giữa các cử tri và được nhiều người lúc đó xem như một nhà lãnh đạo trẻ, có sức thuyết phục, và, thật quan trọng, ôn hòa. Đảng cũng tích cực làm lại hình ảnh của nó bằng việc thực hiện các cải cách dân chủ hơn bên trong đảng. Thay cho việc chọn trở thành một kẻ làm hỏng dân chủ, như một số người có thể kỳ vọng về một đảng độc đoán trước kia mà các vận may bầu cử của nó tiếp tục giảm, QDĐ đã chọn để tăng gấp đôi sự làm sâu sắc cam kết của nó với nền dân chủ và đầu tư vào tính cạnh tranh dân chủ của đảng.

    Quốc Dân Đảng đã chọn con đường bình thường hóa nền dân chủ vì vài lý do, tất cả chúng đều bắt nguồn từ các sức mạnh của đảng và sự tự tin nó sẽ tiếp tục phát đạt trong nền dân chủ, ngay cả khi nó chịu các thất bại bầu cử định kỳ. Thứ nhất, QDĐ tiếp tục làm nổi bật thành tích phát triển trong quá khứ của nó, kêu gọi các cử tri với thông điệp rằng nó đã là đảng có khả năng duy trì sự phát triển kinh tế của Đài Loan. Nó tiếp tục tiết chế các cương lĩnh chính sách xã hội và kinh tế của nó, nhấn mạnh hơn đến các chương trình tái phân phối trong một cố gắng để mở rộng cơ sở ủng hộ của đảng bao quát. Mặt khác, QDĐ cho rằng DPP chưa được chứng minh trong việc quản trị và đã tập trung hẹp vào các vấn đề đặc thù. Trong khi đó, QDĐ tiếp tục có được một phần thưởng ghế đáng kể ở vùng nông thôn, có nghĩa là phần phiếu phổ thông giảm đi của nó đã không đe dọa đa số của nó trong Viện Lập pháp.

    Quốc Dân Đảng đã bắt đầu con đường tới nền dân chủ ở Đài Loan bởi vì sự tự tin của nó và các nguồn sức mạnh đương nhiệm của nó, và nó đã vẫn tự tin bất chấp những thất bại bầu cử tổng thống trong năm 2000 và năm 2004. Để đặt các thứ vào viễn cảnh, các sự thụt lùi bầu cử đó đã không đặc biệt tàn phá cho đảng cầm quyền trước kia. Các sự thất bại với những sự chênh lệch nhỏ, đặc biệt trong cuộc tranh đua 2004 sự chênh lệch mỏng như dao cạo. Bất chấp đã bị mất chức tổng thống, QDĐ tiếp tục kiểm soát một đa số ghế trong Viện Lập pháp suốt các năm 2000. Nói cách khác, nó đã giữ lại các sức mạnh và sự tự tin nó đã có khi nó thừa nhận dân chủ trước tiên.

    Mặc dù đảng cầm quyền trước kia về mặt kỹ thuật “ở trong rừng” (tức là không còn nắm quyền nữa), QDĐ cũng biết rằng nó đã không ở sâu trong rừng và rằng rất ít khả năng nó sẽ ở đó vĩnh viễn. Nó đã tự tin nó sẽ quay lại quyền lực trong tương lai không xa. Nó thực ra đã quay lại quyền lực khi Mã dễ dàng thắng cuộc bầu cử tổng thống 2008 và lần nữa trong 2012. QDĐ tiếp tục thống trị cơ quan lập pháp, mặc dù nó đã chịu một loạt thất bại cay đắng trong các cuộc tranh đua tổng thống tiếp sau. Tuy nhiên, nó chọn không là một kẻ làm hỏng dân chủ, bởi vì dưới các quy tắc trò chơi dân chủ nó có thể lại cạnh tranh trong các cuộc tranh đua tương lai, và như một đảng mạnh với một hồ chứa sâu của các sức mạnh được thừa hưởng, nó đã tự tin nó sẽ lại có sức cạnh tranh, và luôn luôn như vậy.35

    Hết


    Không có nhận xét nào